Thứ ba, 12/12/2017

 

Trang chủ

Liên hệ

Góp ý

Tìm kiếm

Liên kết Website

Bài được xem nhiều nhất

Lịch sử hình thành...

Nhận biết các dấu hiệu cảnh báo sớm của các bệnh lý tâm thần....

CÁC DỊCH VỤ - KỸ THUẬT KHÁM, CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN...

Chức năng nhiệm vụ của Bệnh viện....

BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT (Schizophrenia)...

Quảng cáo

Mời quảng cáo trên Website

 
 

Thứ ba, 12/12/2017 - 08:52" GMT+7


Page for print!    Send to friend ->

Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới.
 

Evaluate the results of treatment of depression patients with suicide by combiningantipsychotics with antidepressants of new generation
                                   Tác giả: TS Tô Thanh Phương.

Tóm tắt: Mục tiêu Đánh giá kết quả điều trị hành vi tự sát của bệnh nhân trầm cảm bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới. Đối tượng và phương pháp tiến cứu can thiệp trên 30 bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát được điều trị tại bệnh viện tâm thần trung ương từ tháng 1/ 2016 đến 8/ 2017. Kết quả Các biểu hiện tuyệt vọng, khóc nhiều, hoảng sợ giảm hết. Các biểu hiện đau khổ giảm nhiều chỉ còn 6,67%, buồn rầu vì cho là mắc bệnh nặng chỉ còn 16,67%. Các hoang tưởng bị tội, hoang tưởng tự buộc tội, hoang tưởng phủ định, hoang tưởng nghi bệnh, hoang tưởng bị đầu độc giảm hết. Ảo thanh xui khiến sau điều trị vẫn còn 6,67%. Các biểu hiện bất động, bồn chồn đứng ngồi không yên, kêu khóc, từ chối ăn, xung động tự sát, hành vi tự sát giảm hết, giảm vận động, nằm nhiều vẫn còn 16,67%. Kết luận việc điều trị bệnh nhân đã thực hiện hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh và chống trầm cảm thế hệ mới đạt hiệu quả cao. Sau điều trị không bệnh nhân nào còn ý định tự sát.

Từ khóa: Trầm cảm, hành vi tự sát, phối hợp an thần kinh mới với chống trầm cảm mới

Abstract: The objective Evaluation of treatment effect of suicidal behaviors of depressed patients with new antidepressant combination with antidepressant. Subjects and methodsintervention in 30 depressed suicidal patients were treated at the Central Psychiatric Hospital 1 from January 2016 to August 2017. Results Desperate expressions, crying and panic have totaly reduced. The manifestations of great suffer reduced to6.67%, serios sadness rests o­nly 16.67%. Paranoid crimes, paranoid self-accusations, negative paranoia, paranoid suspicion, paranoid poisoning reduced totaly. The prostaglandin reduced to 6.67% after treatment. The expression of immobility, restless restlessness, cries, refuse to eat, suicide, suicidal behavior diminished reduced totally. Lying much is still 16.67%. Conclusion The treatment of patients who have committed suicide with new combinations of neuroleptic and anti-depressant drugs is highly effective. After treatment, no patient intends to commit suicide.

Key words: Depression, suicidal behavior, Combination of neuroleptics with anti-depressant new generation

1. Đặt vấn đề: Trầm cảm hiện nay là một vấn đề thời sự, số bệnh nhân( BN) trầm cảm ngày càng gia tăng theo sự phát triển của xã hội, bởi xã hội càng phát triển thì càng có nhiều stress như áp lực về công việc, học hành, kinh tế, ô nhiễm môi trường, ma túy đá và các tệ nạn xã hội. Trầm cảm nặng đặc trưng bởi trạng thái buồn rầu, đau khổ, cảm thấy tương lai ảm đạm, lời nói chậm chạp, liên tưởng khó khăn, giảm sút lòng tin, tự cho mình là hèn kém, mất dần các thích thú và có thể xuất hiện các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng (HT), ảo giác ( AG). Trầm cảm nặng thường kèm theo rối loạn các chức năng sinh học như mất ngủ, mệt mỏi, chán ăn, khi bệnh nặng có thể từ chối ăn và bệnh nhân sẽ chết trong tình trạng suy kiệt do rối loạn nước và điện giải. Khoảng 45-70% người tự sát mắc bệnh trầm cảm và 15% BN trầm cảm chết do tự sát [4]. Điều trị cấp cứu BN trầm cảm có hành vi tự sát là một cấp cứu khác với các cấp cứu thông thường. bởi BN chủ động muốn chết nên nhiều khi khó tiên lượng được hành vi của họ. Việc điều trị tích cực để cứu chữa người bệnh trầm cảm có hành vi tự sát và giúp họ nhận thức tốt hơn về bệnh của mình để tránh những lần tự sát về sau là cần thiết. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu“Điều trị bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới”

Nhằm mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị hành vi tự sát của bệnh nhân trầm cảm bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới

2.Đối tượng và phương pháp:

2.1 Đối tượng nghiên cứu: Gồm 30 BN trầm cảm đã có hành vi tự sát đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD -10 mục F31.4; F31.5; F32 và F33. Các BN này được điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần trung ương từ tháng 1 / 2016 đến 8/ 2017.

2.2 Phương pháp nghiên cứu:Tiến cứu can thiệp, mô tả cắt ngang từng trường hợp.

2.2.3 Phương pháp điều trị:

a. Nếu kích động tự sát mạnh và không hợp tác uống sẽ được tiêm ngay như sau:

+ Thuốc an thần kinh:Sau tiêm 1 đến 3 ngày sẽ chuyển sang uống.

Không có HT hoặc AG: Chlopromazin(Aminazin) 25 mg ngày 2 ống tiêm bắp (trưa 1- tối 1)

Có HT hoặc AG: Chlopromazin (Aminazin) 25 mg ngày 2 ống tiêm bắp ( trưa 1- tối 1)

Haloperidol 5mg ngày 2 ống ( trưa 1 - tối 1)

+ Thuốc giải lo âu: Diazepam (Seduxen) 10 mg tiêm tĩnh mạch ngày 2 ống chia 2

+ Thuốc chống trầm cảm: Sertralin (Zolof ) 50 mg ngày 2 viên chia 2, không uống thì nghiền cho ăn qua sond.

Chúng tôi chỉ dùng Aminazin tiêm 1-3 ngày để BN qua được lúc căng thẳng và ngủ được, sau đó chuyển sang uống, vì dùng aminazin kéo dài sẽ làm trầm cảm tăng hơn.

b. Nếu hợp tác uống thuốc, sẽ điều trị như sau:

+Thuốc an thần kinh: Mỗi BN sẽ được sử dụng 2 loại an thần kinh đồng thời

* Olanzapin 10 mg ngày 2 viên chia 2

* Quetiapin (Seroquel) 50 mg: - 2 ngày đầu, ngày 2 viên chia 2

- Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5, ngày 4 viên chia 2

Quetiapin (Seroquel) 200 mg:- Từ ngày thứ 6, ngày 2 viên chia 2, tăng dần đến 3 viên

+Thuốc chống trầm cảm:

* Sertralin (Zolof ) 50 mg ngày 2 viên chia 2, sau 3 ngày tăng dần lên 4 viên chia 2 lần/ ngày. Nếu những ngày đầu chống đối uống thì pha vào sữa và cho ăn sond.

c. Thời gian điều trị: 40 ngày.

2.3 Xử lý số liệu: theo chương trình Epiinfo 6.0

1.Kết quả nghiên cứu

Bảng 3.1 Tuổi và giới

    Giới

Lứa tuổi

Nam

Nữ

Tổng số

n

%

n

%

n

%

16 - 25

3

10,00

7

23,33

10

33,33

26 - 35

3

10,00

11

36,67

14

46,67

36 - 45

2

6,67

3

10,00

5

16,67

46 - 50

0

0,00

1

3,33

1

3,33

Tổng số

8

26,67

22

73,33

30

100,0

Nhận xét: Bệnh nhân tự sát ở lứa tuổi 26-35 chiếm tỷ lệ cao nhất, thấp nhất là bệnh nhân lứa tuổi 46-50. Nam chiếm 26,67%, nữ 73,33%

Bảng 3.2 Mức độ thuyên giảm của các rối loạn cảm xúc

         Bệnh nhân nghiên cứu

 

Biểu hiện cảm xúc

Trước điều trị

(n=30)

Sau điều trị

( n=30)

 

p

 

n

%

n

%

Khí sắc giảm

30

100,00

10

33,33

0,002

Đau khổ

14

46,67

2

6,67

0.000

Tuyệt vọng

6

20,00

0

0,00

0,000

Khóc nhiều

8

26,67

0

0,00

0,000

Buồn rầu vì cho là mắc bệnh nặng

19

63,33

5

16,67

0,004

Buồn vì cho là không chữa khỏi

12

40,00

4

13,33

0,046

Bi quan về tương lai

20

66,67

15

50,00

0,398

Hoảng sợ, căng thẳng

5

16,67

0

0,00

0,025

Nhận xét: Các biểu hiện rối loạn cảm xúc thuyên giảm nhiều, so với trước điều trị sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,001. Riêng biểu hiện bi quan về tương lai thuyên giảm chậm, không có sự khác biệt so với trước điều trị với p > 0,05.

Bảng 3.3Mức độ thuyên giảm của các rối loạn tư duy và tri giác

Bệnh nhân nghiên cứu

 

Các biểu hiện

Trước điều trị

(n=30)

Sau điều trị
(n=30)

 

p

 

n

%

n

%

Ít nói

20

66,67

15

50,00

0,398

Không nói

4

16,67

0

0,00

0,046

Than vãn kể lể

6

20,00

0

0,00

0,014

Hoang tưởng bị tội

3

10,00

0

0,00

0.083

Hoang tưởng tự buộc tội

4

16,67

0

0,00

0.046

Hoang tưởng phủ định

1

3,33

0

0,00

0,003

Hoang tưởng nghi bệnh

2

10,00

0

0,00

0,083

Hoang tưởng bị đầu độc

3

6,67

0

0,00

0,083

Ảo thanh xui khiến

6

20,00

2

6,67

0,179

Ý định tự sát

12

40,00

0

0,00

0,003

Nhận xét: Các loại hoang tưởng đều thuyên giảm hết sau điều trị, so với trước điều trị có sự khác biệt với p< 0,05.

Bảng 3.4 Thuyên giảm của các rối loạn hành vi

             Bệnh nhân nghiên cứu

 

Các biểu hiện

Trước điều trị

(n=30)

Sau điều trị

( =30)

 

p

 

n

%

n

%

Giảm vận động, nằm nhiều

19

63,33

5

16,66

0,004

Bất động

4

13,33

0

0,00

0.046

Bồn chồn đứng ngồi không yên

6

20,00

0

0,00

0,014

Kêu khóc đau khổ

9

30,00

0

0,00

0,003

Hằn học căng thẳng

3

10,00

0

0,00

0.083

Từ chối ăn

4

13,33

0

0,00

0,046

Xung động tự sát

1

3,33

0

0,00

 

Hành vi tự sát

29

96.67

0

0,00

0,000

Nhận xét: Tất cả các biểu hiện rối loạn hành vi đều thuyên giảm nhiều, so với trước điều trị, sự khác biệt có ý nghĩa với p< 0,001.

Bảng 3.5 Các kiểu tự sát trước và sau điều trị

              Bệnh nhân nghiên cứu

 

Các biểu hiện

Trước điều trị

(n=30)

Sau điều trị
(=30)

 

p

 

n

%

n

%

Treo cổ

3

10,00

0

0,00

0.083

Nhẩy lầu

2

6,67

0

0,00

 

Uống thuốc tân dược

10

33,33

0

0,00

0,000

Uống thuốc diệt cỏ

3

10,00

0

0,00

0.083

Nhảy xuống sông, giếng, ao

3

10,00

0

0,00

0.083

Cắt mạch máu

2

6,67

0

0,00

 

Hủy hoại thân thể

3

10,00

0

0,00

0.083

Lao vào ô tô

1

3,33

0

0,00

 

Quấn dây điện vào người

2

6,67

0

0,00

 

Nhịn ăn

4

13,33

0

0,00

0,046

Nhận xét: Tất cả các hình thức tự sát đều giảm hết, sau điều trị không BN nào còn muốn thực hiện hành vi tự sát nữa. So với trước điều trị, sự khác biệt có ý nghĩa với p< 0,001.

Bảng 3.6 Thuyên giảm của các triệu chứng cơ thể

    Bệnh nhân nghiên cứu


Các biểu hiện

Trước điều trị

(n=30)

Sau điều trị
( n=30)

 

p

 

n

%

n

%

Đau đầu

10

33,33

4

16,67

0,025

Mất ngủ

28

93,33

0

0,00

0,000

Giảm cân

28

93,33

0

0,00

0,000

Giảm tình dục

20

66,67

15

50,00

0,398

Tăng tình dục

3

10,00

0

0,00

0,083

Rối loạn kinh nguyệt

8

26,67

8

26,67

> 0,05

Mạch nhanh

5

16,67

0

0,00

0,025

Chán ăn

3

10,00

0

0,00

0,083

Trí nhớ giảm

19

63,33

5

16,67

0,004

Nhận xét:Sau điều trị, các biểu hiện mất ngủ, giảm cân, đau đầu thuyên giảm nhiều, sự khác biệt có ý nghĩa với p< 0,001. Tình dục giảm và rối loạn kinh nguyệt thuyên giảm chậm, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê trước và sau điều trị (p>0,05).

Bảng 3.7Các tác dụng không mong muốn của thuốc an thần kinh

Tác dụng phụ

 

 

Thuốc

Hạ huyết áp

Tăng tiết đờm dãi

Bồn chồn

Xoắn vặn người

Bí đái

Táo bón

Mạch nhanh

Đau bắp chân

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Aminagin

2

6,67

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Haloperidol

 

 

5

16,67

7

23,23

3

10,0

1

3,33

3

10,0

2

6,67

 

 

Olanzapin

 

 

 

 

2

6,67

 

 

 

 

 

 

 

 

4

13,33

Quetiapine

 

 

2

6,67

5

16,67

 

 

 

 

1

3,33

2

6,67

 

 

Tổng số

2

6,67

7

23,33

7

23,33

3

10,0

1

3,33

4

13,33

4

13,33

4

13,33

Nhận xét : Tăng tiết đờm và bồn chồn gặp ở BN dùng haloperidol và quetiapin, xoắn vặn gặp ở BN dùng Haloperidol, đau bắp chân chỉ gặp ở BN dùng Olanzapin

4. Bàn luận :

4.1 Tuổi và giới : Bảng 3.1 cho thấykhởi phát bệnh trầm cảm tự sát gặp ở tất cả các lứa tuổi từ 16 đến 50. Trong đó nhóm tuổi mắc bệnh cao nhất là 26-35 chiếm 36,67%. Tỷ lệ tự sát của lứa tuôỉ từ 16 đến 45 là 96,67%, trong khi đó nhóm tuổi ³ 45 chỉ chiếm tỷ lệ 3,33%, như vậy đa số BN tự sát ở vào lứa tuổi từ 16 đến 45. Theo FKristina B, trầm cảm nặng thường gặp ở tuổi từ 25-35, trong đó tuổi từ 14-18 khoảng 18,5%, ở thanh thiếu niên trước dậy thì là 0,5-3%[6].

4.2 Thuyên giảm của các rối loạn cảm xúc: Bảng 3.2 cho thấy, các biểu hiện rối loạn cảm xúc đều chiếm tỷ lệ cao trước điều trị, trong đó tâm trạng bi quan chiếm tỷ lệ cao nhất ( 93,33%), tiếp đến là buồn rầu vì cho là mắc bệnh nặng ( 60%), đau khổ ( 46,67%). Sau điều trị thì các biểu hiện rối loạn cảm xúc thuyên giảm nhiều, so với trước điều trị sự khác biệt có ý nghĩa với p< 0,001. Tuy nhiên tâm trạng bi quan còn chiếm tỷ lệ cao sau điều trị (40%), khí sắc còn giảm, nét mặt còn buồn vẫn chiếm tỷ lệ cao ( 33,33%). Theo M.A.Oquendo, các yếu tố bi quan và kích động là những yếu tố dự báo hành vi tự sát, mỗi yếu tố này đều góp phần làm tăng nguy cơ tựsát [3]. Theo Chastang F, các triệu chứng khóc lóc, đau khổ, lo lắng bệnh tật rất hay gặp ở BN trầm cảm nặng. Lo âu thường thấy kết hợp với trầm cảm và dễ dẫn đến xung động tự sát, khoảng 40-50% trầm cảm ở những người quá đau khổ do rối loạn hoảng sợ. Trầm cảm và lo âu lan toả chiếm khoảng 17%. Trầm cảm và xung động ám ảnh chiếm 14-80%, trầm cảm làm phức tạp thêm các triệu chứng ám ảnh ở 1/3 số trường hợp [5].

4.3 Thuyên giảm của các rối loạn tư duy, tri giác : Theo bảng 3.3, các HT gặp trong nghiên cứu là HT bị buộc tội chiếm tỷ lệ 10%, HT tự buộc tội (16,67) cho là mình có tội lỗi với mọi người, đã làm khổ chồng con và gia đình. Với HT nghi bệnh (6,67%) luôn cho là mình bị mắc bệnh nặng như ung thư, SIDA... khẳng định mình bị bệnh chữa mãi không khỏi nên bi quan tuyệt vọng và dẫn đến tự sát. Với HT bị đầu độc (6,67%), BN luôn cho là có người đầu độc mình, trộn thuốc độc vào thức ăn và nước uống do vậy chống đối không ăn. Có 1 BN có HT phủ định ( 3,33%) khẳng định là thế giới sắp sụp đổ và đã treo cổ lên quạt trần trong bệnh phòng. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhận xét củaCarvanho de W, trầm cảm nặng thường gặp là HT và AG phù hợp với khí sắc như HT bị buộc tội, HT nghi bệnh, HT phủ địnhcho là mình đã chết, thế giới sắp sụp đổ và có thể xuất hiện hội chứng Cotard, HT bị đầu độc luôn nghĩ là có người tìm cách đầu độc mình. Tất cả các loại HT này thường dẫn người bệnh đến hành vi tự sát. Ảo thanh trong trầm cảm chiếm 6-50% [4]. Ảo thanh xui khiến có 6 BN (20%), đó là những tiếng nói trong đầu xui BN tự sát bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có 1 BN sang Mỹ học nghiên cứu sinh, đã lao vào ô tô tự sát, khi về nước được chúng tôi điều trị thì bệnh ổn tốt, lại về dạy đại học.,

Ý định tự sát (40%) thường do BN quá đau khổ, buồn chán, bi quan tuyệt vọng, cho là mình không đáng sống vì những tội lỗi của mình, có người phàn nàn muốn chết, có người viết thư tuyệt mệnh, có người nhờ hàng xóm mua hộ thuốc sâu, có người lại đi xin lỗi mọi người trước lúc chết...Theo W. de Carvanho, ý định tự sát sẽ tăng cao khi kết hợp với HT và AG , 80% BN trầm cảm nặng có ý định tự sát [4].

4.4 Thuyên giảm của các rối loạn hành vi: Kết quả bảng 3.4 cho thấy, giảm vận động, ít đi lại, nằm nhiều, nằm suốt ngày, thường tìm chỗ yên tĩnh để nằm, lười vệ sinh thân thể chiếm 66,67%.Kích động vật vã, khóc lóc (26,67%), nhiều BN vào viện trong tình trạng kêu khóc thảm thiết, hoặc đột ngột có xung động tự sát (3,33%). Theo Oquendo M.A., cơn xung động tự sát xuất hiện đột ngột có thể trước đó đã có hoặc không có ý định tự sát, đây là ý tưởng muốn chết không thể cưỡng lại được...gặp nhiều ở trầm cảm nặng (đặc biệt có lo âu), trầm cảm sững sờ [3]. Một số trường hợp chống đối không ăn (16,67%) đôi khi mãnh liệt, BN khôngăn bất cứ một thứ gì, thời gian từ chối ăn trước khi vào viện có thể một vài ngày hoặc một vài tuần. Các BN từ chối ăn trong nghiên cứu này thuyên giảm khá nhanh, chỉ sau vài ngày điều trị là BN đã tự ăn được. Từ chối ăn có thể do HT-AG hoặc do trầm cảm chi phối [2].Theo C. Moutia, tỷ lệ nữ tự sát là 5% và nam là 0% đối với những BN thực hiện hành vi tự sát bằng từ chối ăn, trầm cảm có loạn thần thường từ chối ăndo luôn cảm thấy mình có nhiều tội lỗi không đáng ăn...90% BN tự sát hoặc tự sát không thành mắc bệnh trầm cảm. Bệnh nhân trầm cảm có thể tự sát ở bất cứ giai đoạn nào: giai đoạn khởi phát tại gia đình, giai đoạn cấp hoặc ổn định tại bệnh viện hoặc giai đoạn hồi phục lúc ra viện về gia đình [7].

4.5 Các kiểu tự sát ở bệnh nhân nghiên cứu : Bảng 3.5 cho thấy, tự sát bằng hình thức uống thuốc tân dược chiếm tỷ lệ cao nhất (33,33%). Tiếp đến là các hình thức tự sát như treo cổ, uống thuốc diệt cỏ, nhảy xuống ao, mỗi hình thức chiếm 10%. Sau điều trị, tất cả bệnh nhân không còn muốn tự sát nữa. Có 12 BN có ý định tự sát chiếm 40% là do trầm cảm nặng, BN thấy đau khổ, tuyệt vọng, bi quan chán nản nên tự sát. Còn lại 18 BN tự sát do các HT và AG chi phối. HT gặp nhiều nhất là HT tự buộc tội ( 16,67%), tiếp đến là HT bị tội ( 10%). Có 6 BN tự sát do ảo thanh xui khiến (chiếm 20%), tuy nhiên vẫn còn 2 BN ( 6,67%) vẫn còn ảo thanh sau điều trị nhưng cường độ giảm hơn và không còn xui tự sát nữa. Tất cả HT đều giảm hết sau điều trị, sự khác biệt so với trước điều trị có ý nghĩa với p< 0,001.

4.5 Thuyên giảm của các triệu chứng cơ thể : Bảng 3.6 cho thấy giảm trọng lượng cơ thể, mất ngủ là 2 triệu chứng gặp nhiều nhất và chiếm tới 93,33%, tiếp đến là giảm tình dục ( 66,67%). Tình dục giảm và rối loạn kinh nguyệt thuyên giảm chậm, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê trước và sau điều trị (p >0,05). Theo nghiên cứu của Moutia C, 85% BN trầm cảm có rối loạn kinh nguyệt, nhiều BN sau khi điều trị trầm cảm ổn định nhưng vẫn còn bị rối loạn kinh nguyệt [7]. Theo H.N. Barte, 7% dân số nam bị trầm cảm có rối loạn về sự cương cứng, thậm chí liệt dương, 30% nữ (từ 18-29 tuổi) thờ ơ với tình dục, thậm chí lãnh đạm. Hiếm hơn có thể gặp tăng tình dục[1]. Trong nghiên cứu, chúng tôi gặp 3 BN tăng tình dục mạnh luôn đòi hỏi quan hệ tình dục, các biểu hiện này hết sau điều trị. Sau điều trị, các biểu hiện mất ngủ và giảm cân thuyên giảm hết, tất cả BN đều ăn ngủ tốt và tăng cân..

4.6 Các tác dụng không mong muốn :Sau tiêm clopromazin thì có 6,67% BN tụt huyết áp, hiện tượng này xảy ra khi BN ngủ dậy, đứng dậy đi lại thì tụt HA. Biểu hiện tăng tiết đờm dãi và bồn chồn gặp ở BN dùng Haloperidol và Quetiapin. Biểu hiện đau nhức bắp chân gặp ở BN dùng olanzapin, có BN nhức khó chịu không ngủ được. Theo nghiên cứu của Delbert G[8], bồn chồn bất an ở BN dùng Olanzapin chiếm 11,9%, quetiapinvà risperidon 22%, cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi có thể do họ nghiên cứu mẫu lớn hơn.

5. Kết luận : Bệnh nhân tự sát ở lứa tuổi 26-35 chiếm tỷ lệ cao nhất (46,67%). Trong đó nam chiếm 26,67% và nữ 73,33%.

Hiệu quả điều trị hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh và thuốc chống trầm cảm thế hệ mới.

- Các biểu hiện tuyệt vọng, khóc nhiều, hoảng sợ giảm hết. Các biểu hiện đau khổ giảm nhiều chỉ còn 6,67%, buồn rầu vì cho là mắc bệnh nặng chỉ còn 16,67%.

- Các hoang tưởng bị tội, hoang tưởng tự buộc tội, hoang tưởng phủ định, hoang tưởng nghi bệnh, hoang tưởng bị đầu độc giảm hết. Ảo thanh xui khiến sau điều trị vẫn còn 6,67%. Không còn bệnh nhân nào có ý định tự sát.

- Các biểu hiện bất động, bồn chồn đứng ngồi không yên, kêu khóc, từ chối ăn, xung động tự sát, hành vi tự sát giảm hết. Giảm vận động, nằm nhiều vẫn còn 16,67%.

- Các biểu hiện tăng tình dục, mạch nhanh thuyên giảm hết, ăn ngủ tốt. Đau đầu, trí nhớ đều thuyên giảm nhiều.

Việc điều trị bệnh nhân đã thực hiện hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh và chống trầm cảm thế hệ mới đạt hiệu quả cao. Sau điều trị không bệnh nhân nào còn ý định tự sát.

Tài liệu tham khảo

1.Barte H.N(2003), “ Trầm cảm và rối loạn bản năng tình dục ”, ( Bản dịch tiếng Việt của Tô Thanh Phương), Hội thảo khoa học,TP.HCM, tr. 1 - 7.

2.Tô Thanh Phương (2000), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng từ chối ăn ở bệnh nhân tâm thần phân liệt, Luận văn Thạc sỹ y học, HVQY, tr.11-14.

3.Oquendo M.A., Galfalvy H., Russo S., Ellis S.P., Grunebaum M.F., Burke A. Mann J.J. (2004), “ Prospective study of clinical predictors of suicidal after a major depressive or bibolar disorder”, Am J Psychiatry, 15285970, pp. 161(8).

4.Carvanho de W.; Cohen D. (1995), États dépressifs chez L’Adulte, Les maladies dépressives, Médecine-Sciences-Flammarion, pp. 3-16.

5.Chastang F. (2001), Dépression et troubles anxieux, Dépressions et comorbidités psychiatriques, Masson, pp. 82-84.

6.Kristina B.(2002), La dépression chez les jeunes, La dépression. Institut scientifique de la santé publique,IPH/EPI . p 17.

7.Moutia C.; Fischer W.; Ladame F. (1995), Caractéristiques cliniques d’une cohorte d’adolescents suicidants, Adolescence et suicide, Masson,pp. 71.

8. Delbert G; Margaret G. Woerner et al. (2010) “Randomized comparison of Olanzapine versus risperidone for the treatment of first-episode schizophrenia: 4-month outcomes” Am J Psychiatry163. Page 2096-2102.

 
 Thảo luận (Ý kiến của bạn?)   [Đọc sau]   [Trở về]
Các tin liên quan:
Rối loạn trầm cảm.
MẤT TRÍ (Dementia)
Khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách tại địa phương.
Dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng năm 2012
Hiến máu tình nguyện năm 2011

Các tin đã đưa:

Xem tiếp >>

Tiêu điểm

  Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới.
Khảo sát tình hình bệnh nhân trầm cảm được điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I năm 2016
Lâm sàng trầm cảm và thay đổi thể tích não ở bệnh nhân qua MIR.
Khảo sát sự phát triển tâm lý - vận động ở trẻ em bằng Test Denver II
Ngày sức khoẻ tâm thần Thế giới năm 2017 (10-10-2017)
Xây dựng quy trình áp dụng kích thích từ xuyên sọ hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid.
  Sức khỏe Tâm thần Tiếp» 
Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới.
Đánh giá một số yếu tố liên quan đến phát bệnh trầm cảm.
Khảo sát tình hình bệnh nhân trầm cảm được điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I năm 2016
 
  Báo cáo ca lâm sàng Tiếp» 
Nhận xét một số đặc điểm tâm lý qua tranh vẽ ở một trường hợp có khó khăn tâm lý
Nhận xét điều trị 5 bệnh nhân tâm thần phân liệt trầm cảm có hành vi đặc biệt nguy hiểm
Báo cáo một trường hợp bệnh tâm thần phân liệt đặc biệt
 
Dành cho Quảng cáo

® BẢN QUYỀN THUỘC BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I
Điện thoại : 04.33853227 - 04.33850050 - 04.33852902 - 04.33850589 - 04.33853534; Fax : 04.33853190
Email :
bvtttw1@yahoo.com.vn : Website : http://www.bvtttw1.gov.vn

(Sử dụng phần mềm quản lý nội dung Website (CMS) của NtSoft Jsc)