Thứ ba, 12/12/2017

 

Trang chủ

Liên hệ

Góp ý

Tìm kiếm

Liên kết Website

Bài được xem nhiều nhất

Lịch sử hình thành...

Nhận biết các dấu hiệu cảnh báo sớm của các bệnh lý tâm thần....

CÁC DỊCH VỤ - KỸ THUẬT KHÁM, CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN...

Chức năng nhiệm vụ của Bệnh viện....

BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT (Schizophrenia)...

Quảng cáo

Mời quảng cáo trên Website

 
 

Thứ tư, 16/07/2014 - 11:08" GMT+7


Page for print!    Send to friend ->

Chứng đái dầm ở trẻ em.
 

                                          TS.Bác Sĩ. Nguyễn Hữu Chiến
                                          ThS.Tâm Lý. Nguyễn Thị Thu Linh

1.Mở đầu

Đái dầm ở trẻ em là chứng đi tiểu không tự chủ được. Ở trẻ em, từ 0 – 5 tuổi là lúc các bé chưa tự chủ, chưa kiểm soát được ý muốn mang tính “bản năng” của bản thân nên “tè dầm” là chuyện bình thường. Nhưng từ 5 tuổi trở lên mà bé vẫn đi đái không tự chủ được thì là biểu hiện không bình thường mà dân gian thường gọi đó là đái dầm. Có nhiều loại đái dầm như chỉ đái vào ban ngày, chỉ đái vào ban đêm và đái dầm cả ngày lẫn đêm.



Ảnh: minh hoạ

2.Phân loại: Chứng đái dầm cơ bản có 2 loại, đái dầm không thực tổn và đái dầm có căn nguyên thực tổn.

1.1.Đái dầm có căn nguyên thực tổn.

Bệnh nhân đái không kiểm soát được, gặp ở cả đối tượng người lớn và trẻ em, nhưng chủ yếu là trẻ em. Những nguyên nhân như chậm phát triển hệ thống thần kinh, các dị dạng đường niệu, nhiễm khuẩn đường tiểu hoặc chứng táo bón, bệnh đái tháo nhạt, tiểu đường, bệnh thận, đường tiểu yếu - bị nghẹt đường tiểu... Những định hướng và can thiệp trị liệu nhằm cải thiện hoặc điều trị bệnh cần thiết phải có những thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng cũng như những can thiệp mang tính chuyên khoa dưới góc độ y học.

1.2.Đái dầm không thực tổn (ĐDKTT)

1.2.1.Khái niệm:

ĐDKTT là rối loạn có đặc trưng bài tiết nước tiểu không theo ý muốn ban ngày hoặc ban đêm hay cả ban ngày và ban đêm. Chứng đái dầm này không phải là hậu quả của rối loạn kiểm tra bàng quang, do nguyên nhân thần kinh hay do cấu trúc bất thường của hệ tiết niệu. Chứng đái dầm không thực tổn bao gồm:

- Đái đầm tiên phát là đái dầm xuất hiện từ lúc mới sinh (tức là kéo dài hiện tượng đái không tự chủ sinh lý ở trẻ em.)

- Đái dầm thứ phát là đái dầm xuất hiện sau giai đoạn đã kiểm soát được bàng quang, tức là sau một khoảng thời gian trẻ đã tiểu tiện một cách tự chủ.

- Đái dầm chức năng hoặc đái dầm tâm sinh: có thể xuất hiện đơn chứng hay cũng có thể kết hợp với rối loạn cảm xúc hoặc kết hợp với rối loạn hành vi. Trong trường hợp đái dầm có kết hợp với rối loạn hành vi, người ta chưa xác định được cơ chế kết hợp. Còn các rối loạn cảm xúc thì thường xuất hiện thứ phát do buồn phiền, lo lắng, xấu hổ vì đái dầm gây ra.

- Đái dầm do không kiềm chế được nước tiểu, căn nguyên không phải thực tổn.

Cho đến nay việc xác định chính xác căn nguyên chứng đái dầm không thực tổn vẫn là một vấn đề với nhiều triệu chứng đi kèm. Do vậy trong chẩn đoán cần xác định chứng đái dầm, rối loạn cảm xúc hay rối loạn hành vi là chủ yếu.

1.2.2.Dịch tễ học

Theo một số nghiên cứu ở Việt Nam: đái dầm không thực tổn chiếm 5,01% ở đối tượng trẻ 5 – 14 tuổi, nam và nữ tương đương nhau; tỷ lệ mắc bệnh tự nhiên giảm dần theo lứa tuổi. Người ta còn phân loại: Trẻ trên 5 tuổi vẫn đái dầm liên miên, đó là đái dầm loại 1(chiếm 15 -20%). Trẻ 5 - 12 tuổi có lúc đã khỏi được 6 tháng rồi lại bị trở lại là đái dầm loại 2 (chiếm 3- 8%). Một số trẻ lớn, thậm chí ở tuổi vị thành niên vẫn còn đái dầm. Đái dầm ở lứa tuổi 5 -14 tuổi tăng vào mùa đông (54,54%) và vào ban đêm (62,33%); tần xuất đái dầm 1-3 lần trong ngày là chủ yếu (81,82%); đặc biệt ở những đối tượng này cũng có bố mẹ, anh chị em mắc chứng đái dầm khi 5 -15 tuổi.

1.2.3.Tiêu chuẩn chẩn đoán chứng đái dầm của Hội Tâm thần học Mỹ:

Trong DSM-III-R mục các rối loạn hành vi bài xuất có đưa ra các tiêu chuẩn chẩn đoán chứng ĐDKTT như sau:

-Bài xuất nước tiểu ban ngày hoặc ban đêm, đái ra giường hay ra quần áo, không chủ động hay không cố ý.

-Xuất hiện ít nhất hai lần mỗi tháng ở các trẻ em 5 – 6 tuổi và ít nhất một lần mỗi tháng ở các trẻ em lớn hơn, kéo dài ít nhất 3 tháng liên tiếp.

-Trẻ từ 5 tuổi trở lên

-Đái dầm không phải do bệnh đái tháo nhạt, tiểu đường, nhiễm trùng đường tiết niệu hay trong các cơn co giật.

Có 2 bệnh dễ nhầm với đái dầm ở trẻ, đó là tiểu không kiểm soát hoặc dò nước tiểu:

Tiểu không kiểm soát là tình trạng người bệnh cứ tiểu thoải mái không biết nín ngay cả khi còn thức thì đây rất có thể không phải là đái dầm mà là tiểu không kiểm soát. Đây là một chứng bệnh bàng quang thần kinh cần được khám để điều trị thích hợp.

Dò nước tiểu bẩm sinh có các biểu hiện quần bé luôn luôn ẩm, khai nhưng bé vẫn đi tiểu bình thường, vẫn biết nín tiểu và không để nước tiểu xả ra ào ào như khi ngủ. Hiện tượng này chủ yếu xảy ra ở bé gái, do 2 thận của bé ở cùng bên, một ở trên, một ở dưới. Khi đó nước tiểu từ thận trên theo ống dẫn nước tiểu không chảy hết xuống bàng quang mà lại đi thẳng ra cửa mình. Những trường hợp này bé cần được phẫu thuật để ống nước tiểu tại chỗ này được đẩy về bàng quang.

Khoảng 80% chứng đái dầm không bao giờ kéo dài quá 1 năm và thường tự hết mà không cần điều trị.

1.2.4.Nguyên nhân gây đái dầm.

Một số vấn đề sau cũng làm gia tăng chứng đái dầm:

-Tâm lý căng thẳng: nhất là với trẻ ở tuổi nhà trẻ, mầm non, trẻ ở tuổi đi học bị bạn bè tẩy chay, cô giáo mắng, phạt… Sự ám ảnh, lo sợ khi phải thường xuyên chứng kiến cảnh bố mẹ cãi lộn, bạo lực, bố mẹ ly dị hoặc phải sống trong một bầu không khí gia đình căng thẳng, thiếu sự quan tâm chia sẻ giữa các thành viên…

-Việc trẻ “ chót” đái dầm và bị khiển trách, phê phán, mắng mỏ hoặc việc có nhiều người biết về chứng đái dầm và trêu chọc trẻ cũng là một áp lực tâm lý khiến các em có mặc cảm tự ti, xấu hổ và bệnh nặng dần lên, nhất là những trẻ lớn hơn 10 tuổi.

-Táo bón, nhiễm trùng đường niệu (thường găp ở trẻ gái nhiều hơn) do đặc điểm cấu tạo của niệu quản, nhất là khi vệ sinh kém. Bệnh viêm bàng quang là loại hay gặp nhất trong nhiễm trùng đường tiết niệu do viêm ngược dòng. Vì vậy khi trẻ đái dầm (nhất là trẻ em gái) cần xem xét kỹ có bị viêm bàng quang hay không.

-Đi tiểu nhiều do các bệnh cơ thể (đái tháo đường, bệnh thận) cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến chứng đái dầm.

Ngoài ra cũng nên lưu ý một số nguyên nhân rất đơn giản như:

-Do trẻ lười vào nhà vệ sinh nên mới dẫn đến đái dầm.

-Do uống nhiều nước trước khi đi ngủ.

-Do trẻ không được huấn luyện tốt thói quen đi vệ sinh.

-Do lạm dụng sử dụng bỉm khiến trẻ mất phản xạ tự chủ trong tiểu tiện…

1.2.5.Một số định hướng và can thiệp khi trẻ đái dầm:

- Đối với trẻ dưới 5 tuổi bị chứng đái dầm cha mẹ không nên quá lo lắng, không cần cho trẻ đi khám bác sỹ mà cần giúp đỡ và luyện cho trẻ thói quen đái tự chủ. Ví dụ: không nên cho trẻ uống nhiều nước trước khi ngủ, nên đánh thức trẻ dậy đi tiểu, thậm chí khuyến khích trẻ đặt báo thức vào những giờ cao điểm mà cháu thường đái dầm.

- Giảm những thức ăn chứa nhiều chocolate, sữa, nước cam, trà, cocacola và những thực phẩm có tính “lợi tiểu” vào bữa tối hoặc gần thời điểm trẻ đi ngủ.

- Nếu có thể nên để đèn điện gần chỗ đi tiểu để trẻ không ngại dậy ban đêm

- Tập luyện bàng quang cũng là giải pháp tốt: lúc đang đi tiểu thì ngưng lại và kéo dài đường tiểu, cũng có thể uống nhiều nước vào ban ngày để rèn luyện “sức chịu đựng” của bàng quang.

- Sinh hoạt có quy luật điều độ, tập thói quen ngủ trưa để tránh về đêm ngủ quá say không thể kịp nhận biết mót tiểu tiện

- Trước khi đi ngủ đi tiểu cho hết nước tiểu tại bàng quang.

Có những cha mẹ hiểu lầm rằng tiểu tiện đêm của trẻ nhỏ giống như là một bản năng bú mút vú sữa vậy. Thực ra thói quen tiểu tiện chính xác cần phải có sự huấn luyện (như việc xi trẻ đái sớm để tạo thành một phản xạ có điều kiện ngay từ khi còn rất nhỏ….)

- Bố mẹ và các thành viên đừng tỏ ra quá lo lắng hoặc là la mắng, rày la, dọa nạt hoặc trêu chọc, chế nhạo trẻ vì như vậy sẽ gây thêm áp lực cho trẻ, khiến trẻ căng thẳng hơn; mà nên có 1 cuốn sổ theo dõi và khuyến khích mỗi khi trẻ chiến thắng tè dầm 1 lần, đừng tiếc lời khen ngợi và hãy động viên khen thưởng cho trẻ. Việc làm này sẽ khiến các bé thêm tự tin để quyết tâm và cố gắng để nhanh chóng khỏi bệnh.

- Kiên trì huấn luyện và tỏ ra thông cảm với trẻ, sau một thời gian đa số trẻ có thể tự khống chế được tiểu tiện.

- Nếu trẻ đã lớn và gia đình đã làm hết cách mà vẫn không cải thiện được tình trạng thì nên cho đến bệnh viện để thử nước tiểu, siêu âm, chụp đường niệu. Thầy thuốc sẽ có chỉ định điều trị thích hợp tùy theo từng nguyên nhân gây bệnh. Bên cạch đó nên động viên, giúp đỡ trẻ, không nên để trẻ có mặc cảm xấu hổ, lo lắng căng thẳng thần kinh.

Địa chỉ khám, tư vấn, trị liệu:

Khoa Tâm lý lâm sàng-Bệnh viện Tâm thần Trung ương1

ĐT: 04.62926645

Khoa Tâm lý lâm sàng

 
 Thảo luận (Ý kiến của bạn?)   [Đọc sau]   [Trở về]

Tin mới:


Các tin đã đưa:

Xem tiếp >>

Tiêu điểm

  Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới.
Khảo sát tình hình bệnh nhân trầm cảm được điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I năm 2016
Lâm sàng trầm cảm và thay đổi thể tích não ở bệnh nhân qua MIR.
Khảo sát sự phát triển tâm lý - vận động ở trẻ em bằng Test Denver II
Ngày sức khoẻ tâm thần Thế giới năm 2017 (10-10-2017)
Xây dựng quy trình áp dụng kích thích từ xuyên sọ hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid.
  Sức khỏe Tâm thần Tiếp» 
Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới.
Đánh giá một số yếu tố liên quan đến phát bệnh trầm cảm.
Khảo sát tình hình bệnh nhân trầm cảm được điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I năm 2016
 
  Báo cáo ca lâm sàng Tiếp» 
Nhận xét một số đặc điểm tâm lý qua tranh vẽ ở một trường hợp có khó khăn tâm lý
Nhận xét điều trị 5 bệnh nhân tâm thần phân liệt trầm cảm có hành vi đặc biệt nguy hiểm
Báo cáo một trường hợp bệnh tâm thần phân liệt đặc biệt
 
Dành cho Quảng cáo

® BẢN QUYỀN THUỘC BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I
Điện thoại : 04.33853227 - 04.33850050 - 04.33852902 - 04.33850589 - 04.33853534; Fax : 04.33853190
Email :
bvtttw1@yahoo.com.vn : Website : http://www.bvtttw1.gov.vn

(Sử dụng phần mềm quản lý nội dung Website (CMS) của NtSoft Jsc)