Thứ ba, 12/12/2017

 

Trang chủ

Liên hệ

Góp ý

Tìm kiếm

Liên kết Website

Bài được xem nhiều nhất

Lịch sử hình thành...

Nhận biết các dấu hiệu cảnh báo sớm của các bệnh lý tâm thần....

CÁC DỊCH VỤ - KỸ THUẬT KHÁM, CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN...

Chức năng nhiệm vụ của Bệnh viện....

BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT (Schizophrenia)...

Quảng cáo

Mời quảng cáo trên Website

 
 

Thứ năm, 07/12/2017 - 10:58" GMT+7


Page for print!    Send to friend ->

Đánh giá một số yếu tố liên quan đến phát bệnh trầm cảm.
 

Evaluating a number of factors related to depression.
                                 
                               Tác giả: TS. Tô Thanh Phương

Tóm tắt: Mục tiêu Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến phát bệnh trầm cảm, góp phần dự phòng mắc bệnh trầm cảm. Đối tượng gồm 56 người bệnh trầm cảm được điều trị tại bệnh viện tâm thần trung ương 1 năm 2016.- 2017 với phương pháp tiến cứu mô tả cắt ngangKết quả một số yếu tố thuận lợi phát sinh trầm cảm gặp trong nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao là lứa tuổi 16-45 chiếm 75%, nữ 89,3%, đã kết hôn 67,86 %, nhân cách ưu tư 46,43%, các vấn đề kinh tế 31,25% và sau đẻ 55,56%. Kết luận nữ giới, đã kết hôn, nhân cách ưu tư, các vấn đề kinh tế và sau đẻ là các yếu tố thuận lợi phát sinh trầm cảm

Từ khóa: Ýếu tố liên quan, trầm cảm

Summary: ObjectivesTo find out somme factors related to the depression, so that prevent depression. The subjects of 56 depressed patients were treated at the Central Psychiatric Hospital in 2016- 2017 with a cross-sectional descriptive study. The results some of the favorable factors that led to depression were found in the this study. The high proportion is aged 16-45, accounting for 75%, females 89.3%, married 67.86%, Personality anxiety 46.43%, economic problems 31.25% and postpartum 55, 56%. Conclusions of femininity, marriage, economic and postpartum issues are favorable factors for the development of depression.
Keywords: Relevant factors, depression

Đặt vấn đề: Trầm cảm là một dạng bệnh lý biểu hiện bằng trạng thái buồn rầu, chán nản, giảm và mất dần các sở thích trước kia, luôn cảm thấy mệt mỏi mất sinh lực. Bênh nhân luôn tự ti mặc cảm cho là mình không bằng mọi người, giảm sự tập trung chú ý, nhìn tương lai ảm đạm bi quan, trí nhớ giảm sút, tình dục giảm. Rất nhiều bệnh nhân có biểu hiện mất ngủ điều trị nhiều nơi không đỡ, ăn uống kém. Khi nặng thường có ý định và hành vi tự sát, khoảng 45-70% những người tự sát mắc bệnh trầm cảm và 15% bệnh nhân trầm cảm chết do tự sát. Người bệnh hầu như không làm được gì khi bệnh đã nặng. Trầm cảm có xu hướng gia tăng, xã hội càng phát triển thì càng có nhiều áp lực trong cuộc sống, càng có nhiều stress, do vậy số người mắc trầm cảm ngày càng nhiều. Có tới 20% dân số mắc trầm cảm, trong đó rối loạn trầm cảm điển hình chiếm 5% dân số. Bệnh thường gặp ở tuổi từ 18 đến 44, nữ bị rối loạn trầm cảm cao gấp 3 lần nam [8].

Trầm cảm do rất nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó các yếu tố thuận lợi thường gặp là giới tính, độ tuổi, vấn đề nhân cách, hôn nhân, và các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội. Việc tìm hiểu các yếu tố thuận lợi cho việc phát sinh trầm cảm là cần thiết nhằm phòng, tránh mắc căn bệnh này. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá một số yếu tố liên quan đến phát bệnh trầm cảm”nhằm mục tiêu dự phòng mắc bệnh trầm cảm.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Gồm 56 bệnh nhân trầm cảm đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD -10 mục F32 và F33. Các bệnh nhân này được điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần trung ương 1 trong năm 2015 và 2016.

2.2 Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang, mô tả từng trường hợp.

Xử lý số liệu theo chương trình Epiinfo 6.0

3. Kết quả nghiên cứu

Bảng 3.1. Tuổi khởi phát của bệnh nhân nghiên cứu

              Bệnh nhân

Lứa tuổi

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

16 - 25

13

23,20

26 - 35

19

33,93

36 - 45

10

17,86

46 - 50

10

17,86

> 50

4

7,14

Tổng số

56

100,00

Nhận xét: Bệnh nhân lứa tuổi từ 16 đến 45 chiếm tỷ lệ cao. Thấp nhất là nhóm > 50 tuổi

Bảng 3.2. Giới của bệnh nhân nghiên cứu

           Bệnh nhân

Giới tính

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Nữ

50

89,30

Nam

6

10,70

Tổng số

56

100,00

Nhận xét: Bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ cao ( 89,3%), trong khi đó chỉ có 10,7% bệnh nhân nam mắc trầm cảm.

Bảng 3.3. Tình trạng hôn nhân của bệnh nhân nghiên cứu

 

            Bệnh nhân

Lứa tuổi

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Chưa kết hôn

17

30,36

Đã kết hôn

38

67,86

Ly dị

1

1,78

Tổg số

56

100,00

Nhận xét: Bệnh nhân đã kết hôn chiếm tỷ lệ cao nhất ( 67,86%), tiếp đến là chưa kết hôn (30,36%).

Bảng 3.4. Yếu tố nhân cách của bệnh nhân nghiên cứu

                   Bệnh nhân

Loại nhân cách

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Nóng nảy

14

25,00

Hăng hái sôi nổi

10

17,86

Bình thản

6

10,72

Ưu tư

26

46,43

Tổng số

56

100,00

 

Nhận xét: Bệnh nhân có biểu hiện nhân cách ưu tư chiếm tỷ lệ cao nhất ( 46,43%). Tiếp đến là loại nhân cách nóng nảy ( 25%) và thấp nhất là loại nhân cách bình thản (10,72%) .

Bảng 3.5. Các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội của bệnh nhân nghiên cứu

                 Bệnh nhân

Yếu tố ảnh hưởng

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Các vấn đề kinh tế

5

31,25

Học hành, thi cử

2

12,5

Việc làm khó khăn

1

6,25

Gia đình bất hòa

3

18,75

Thời gian làm việc > 8h/ngày

1

6,25

Nghiện rượu, ma túy

2

12,5

Tình yêu tan vỡ

2

12,5

Tổng số

16

100,00

Nhận xét: Bệnh nhân mắc bệnh trầm cảm có liên quan đến kinh tế chiếm tỷ lệ cao nhất (31,25%), tiếp đến là gia đình bất hòa (18,75%), thấp nhất là yếu tố việc làm (6,25%).

Bảng 3.6. Các yếu tố sinh học của bệnh nhân nghiên cứu

                  Bệnh nhân

Yếu tố sinh học

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Sau mổ tuyến giáp

1

5,56

Tai biến mạch não

2

11,11

Tiểu đường

3

16,67

Dạ dày

2

11,11

Sau đẻ

10

55,56

Tổng số

18

100,00

Nhận xét: Bệnh nhân sau sinh mắc bệnh trầm cảm chiếm tỷ lệ cao nhất ( 55,56%), tiếp đến bệnh nhân tiểu đường ( 16,67%), thấp nhất là sau mổ tuyến giáp (5,56%).

4. Bàn luận

- Tuổi khởi phát: Tuổi đóng vai trò quan trọng trong trầm cảm. Biểu hiện trầm cảm ở thanh thiếu niên khác với người trưởng thành, thường gặp là các rối loạn hành vi như nghiện ma tuý, phạm tội, có thể có những hành vi xung động (trẻ em nam) và trẻ em nữ thường gặp là mất ngủ, rối loạn hành vi ăn uống hoặc có cảm giác đau không rõ rệt, giảm sút khả năng học tập, các mối thân tình trở nên xấu đi, trầm cảm điển hình ở thanh thiếu niên chiếm khoảng 1%. Nhóm tuổi có nguy cơ rối loạn khí sắc cao là nhóm từ 45-64 tuổi, trong khi đó các rối loạn trầm cảm điển hình lại thường gặp ở lứa tuổi từ 18-44, trong đó lứa tuổi từ 14-18 chiếm khoảng 18,5% rối loạn trầm cảm, ở thanh thiếu niên trứơc dậy thì là 0,5% [5],[8]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, đa số bệnh nhân mắc trầm cảm thuộc lứa tuổi 16-45 (75%), đây là độ tuổi lao động quan trọng nhất của một con người, thấp nhất là nhóm > 50 tuổi ( 7,14%) (bảng 3.1), kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của tác giả Rouillon F[8].

Nữ lứa tuổi trung niên có biểu hiện rối loạn khí sắc chiếm tỷ lệ cao nhất. Theo các nghiên cứu của các tác giả Mỹ: Nam: 2% (18-44); 1,9%( 45-64); 1% trên 65 tuổi. Nữlà 4% (18-44); 4,8% (45-64); 2 % trên 65 tuổi. Trong các nghiên cứu của Edmonton người ta đã quan sát thấy sự gia tăng của các rói loạn khí sắc tại phụ nữ lứa tuổi 18-64 cùng với một sự giảm sau đó. Trong khi đó trầm cảm nặng lại thường gặp nhất ở lứa tuổi 25-35 [8]..

- Giới tính: Tính dễ bị tổn thương của phụ nữ đối với trầm cảm đã được nghiên cứu rất nhiều. Theo Bland R.C (1988), giai đoạn trầm cảm điển hình ở nữ là 9%, nam là 2,5%. Giới tính hình như biến đổi theo nền văn hoá của các dân tộc như: 1, 9 nữ / 1 nam ở Mỹ(Weissman M.M-1988), 4,8 nữ / 1 nam ở Puerto Rico (Casio G.L-1987). Các nghiên cứu về dân số chung của trầm cảm đều khẳng định rằng tỷ lệ trầm cảm ở nữ cao gấp 2 lần nam (1,5 nữ / 1 nam ). Theo Kristina. B, các hormon đóng vai trò kiểm soát về cảm xúc và khí sắc, ở nữ thường gặp là chu kỳ kinh nguyệt, chửa, đẻ, mãn kinh, đôi khi quyết định không có con...tất cả các yếu tố này làm dao động khí sắc và do vậy có thể gây trầm cảm, tính chất mạn tính cũng hay gặp ở nữ hơn (gấp 2 lần), vả lại người phụ nữ thường phải chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện trong xã hội và gia đình cao hơn nam giới [2]. Kết quả của chúng tôi cho thấy, nữ chiếm tới 89,3% trong khi nam chỉ chiếm 10,7% ( bảng 3.2). Như vậy trầm cảm gặp nhiều ở nữ hơn so với nam

- Vấn đề hôn nhân:Theo Rouillon F( 2003), người đã kết hôn ít có nguy cơ bị trầm cảm hơn người chưa kết hôn, tỷ lệ thấp nhất gặp ở những người chưa kết hôn bao giờ, nhưng tỷ lệ lại cao ở những người li dị, goá bụa, ly thân. Không kết hôn tuổi trung bình mắc trầm cảm là 45-64 . Đã kết hôn, trầm cảm thường gặp ở độ tuổi từ 18-44 [8]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ngược với tác giả Rouillon F, số bệnh nhân trầm cảm đã kết hôn lại chiếm tỷ lệ cao nhất (67,86%) (bảng 3.3). Điều này có thể giải thích do nền văn hóa khác nhau nên các biểu hiện trầm cảm trong vấn đề hôn nhân cũng khác nhau.

- Nhân cách tiền bệnh lý: Thường gặp nhất là những người có phản ứng chậm thiên về tình cảm, trí nhớ yếu. Theo nhiều nghiên cứu, trẻ em mất cha mẹ thì yếu tố dễ bị mắc trầm cảm có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành. Nguy cơ bị trầm cảm do bị mất cha mẹ thường gặp ở trầm cảm không nội sinh hơn so với trầm cảm nội sinh và dễ gây trầm cảm cấp. Nguy cơ trầm cảm dễ xảy ra khi mất cha mẹ hoặc cha, mẹ ly thân. Trong thực tế, trầm cảm do mất cha mẹthường gặp hơn so với trầm cảm xuất hiện do vợ chồng mâu thuẫn hoặc quan hệ xấu giữa con và cha mẹ. Tính dễ bị trầm cảm có liên quan với quá trình quan tâm của cha mẹ với con khi còn ít tuổi, nhất là những đứa trẻ bị bỏ rơi, bị hắt hủi, bị đầy đoạ thường có mặc cảm tội lỗi, thất vọng hoặc những đứa trẻ được nuông chiều, thiếu giáo dục đúng đắn...là những yếu tố dễ làm xuất hiện trầm cảm về sau [4].

Kết quả nghiên cứu cho thấy, số bệnh nhân có kiểu nhân cách ưu tư mắc bệnh trầm cảm chiếm tỷ lệ cao nhất ( 46,43%) ( bảng 3.4), hầu hết bệnh nhân dạng này rất ít khi biểu lộ những suy nghĩ của mình cho người khác biết, tất cả mọi niềm vui, nỗi buồn đều được dấu kín trong lòng, âm thầm chịu đựng tất cả các sang chấn trong cuộc sống, chính vì vậy, sau một quá trình âm thầm chịu đựng, đến khi không còn khả năng chịu được nữa nên đã phát bệnh trầm cảm. Do vậy, cách phòng bệnh trầm cảm tốt nhất là nên trao đổi tâm tư, nguyện vọng, chia sẻ niềm vui cũng như nỗi buồn với những người thân, tham gia các hoạt động cộng đồng sẽ rất có hiệu quả.

- Các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội: Các sự kiện của đời sống có ảnh hưởng rất nhiều đến phát sinh bệnh trầm cảm. Theo Hardy.P ( 2003), các sự kiện đời sống gặp đầu tiên có thể phát sinh trầm cảm là những thay đổi mạnh cuộc sống của bản thân và gia đình, thường gặp nhất là những biến động có tính chất tiêu cực trong cuộc sống như mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh mạn tính, người thân tử vong, thất nghiệp, bị thải hồi…, Vấn đề thứ hai thường gặp là những biến động làm thay đổi thói quen hàng ngày như thay đổi công việc, thay đổi chỗ ở, cuộc sống vợ chồng có khúc mắc, gia đình bị xáo trộn…[6].

Theo nghiên cứu của Weissman M.M (1978) nhận thấy trầm cảm tăng cao ở những người có mức sống thấp. Theo các nghiên cứu của ECA(Epidemiologie Catchment Area) thì trầm cảm điển hình cao gấp 3 lần ở những người không có việc làm hoặc phải sống nhờ trợ cấp [8].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, các vấn đề kinh tế gặp trong nghiên cứu là túng quẫn do cá độ, mất tiền do hụi họ, khánh kiệt gia đình do nghiện…gây ra trầm cảm ( chiếm 31,25%) cao hơn so với các yếu tố khác ( bảng 3.5), kết quả này cũng phù hợp với đánh giá của Niro V ( 2003), trầm cảm tăng cao ở những người có mức sống thấp, sống phụ thuộc hoặc phá sản.[1],[8].

Tiếp theo là gia đình bất hòa chiếm 18,75% ( bảng 3.5), trong gia đình thì vợ chồng thường xuyên cãi nhau, có gia đình chồng nghiện rượu suốt ngày chửi bới vợ con , luôn cho là vợ ngoại tình nên đánh chửi, dọa giết khiến gia đình luôn trong tình trạng căng thẳng. Có gia đình có con nghiện ma túy thường xuyên trộm tiền của bố mẹ thậm chí trộm cắp tài sản đã phải vào trại giáo dưỡng.

- Các yếu tố sinh học: Theo Beaufils B. (1991). giảm đáp ứng TSH với kích thích bởi TRH được quan sát thấy ở khoảng 25% trầm cảm tái diễn, sự đáp ứng của TSH bị giảm 15-56% ở trầm cảm nội sinh điển hình và có xu hướng trở về bình thường khi khỏi bệnh [2].

Theo Gérard (2003), 75% có những dấu hiệu nhẹ trong giai đoạn tiền kinh nguyệt, thường gặp ở lứa tuổi 30, khoảng 20-50% có những dấu hiệu rõ rệt hơn và 3-5% có dấu hiệu điển hình gây cản trở đến cuộc sống hàng ngày và đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm. Rối loạn tâm thần và hành vi kết hợp với thời kỳ sinh đẻ là dobiến đổi nồng độ Hormon Steroide, đặc biệt là Estrogen [3],[7]. Trầm cảm sau sinh thường xuất hiện 6 tuần sau đẻ, tỷ lệ khoảng 10% số nữ sau đẻ. Các giai đoạn như sau:

- Sau ðẻ 3-4 ngày, bệnh nhân chán nản, mệt mỏi, suy nhược, dễ bị kích thích, luôn phàn nàn về các triệu chứng cơ thể, rối loạn giấc ngủ, luôn có ám ảnh cho là mình không biết nuôi con và có tâm trạng buồn chán, lo âu, bi quan, có những lúc khóc lúc buồn phiền. Khi bệnh nặng, có thể đột ngột xuất hiện xung động tấn công trong cơn hoảng sợ nên rất nguy hiểm đối với con, thường gặp ở ngừời mẹ trẻ.

- Trầm cảm điển hình có thể xuất hiện 3 tuần sau đẻ và có thể dẫn đến những rối loạn quan trọng mối quan hệ mẹ-con. Sau 1 năm, các triệu chứng vẫn còn tồn tại dai dẳng ở 1/3 số bệnh nhân này nếu không được điều trị ðúng cách.

- Các rối loạn tâm thần có thể xuất hiện muộn 3 tháng sau đẻ, một số tác giả gọi là “Loạn thần sữa”.

    Kêt quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trầm cảm xuất hiện sau đẻ chiếm tỷ lệ cao nhất ( 55,56%), tiếp đến là bệnh nhân mắc tiểu đường (16,67%) ( bảng 3.6).

5. Kết luận: Các yếu tố liên quan đến phát bệnh trầm cảm chiếm tỷ lệ cao, đó là:

- Đa số bệnh nhân mắc trầm cảm thuộc lứa tuổi 16-45 (75%)

- Bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ cao ( 89,3%).

- Bệnh nhân đã kết hôn chiếm tỷ lệ ( 67,86%),

- Bệnh nhân có biểu hiện nhân cách ưu tư chiếm tỷ lệ (46,43%).

- Bệnh nhân mắc bệnh trầm cảm có liên quan đến kinh tế chiếm tỷ lệ (31,25%),

- Bệnh nhân sau sinh mắc bệnh trầm cảm chiếm tỷ lệ (55,56%),

Cần quan tâm đến các yếu tố này trong quản lý, giáo dục xã hội nhằm làm giảm nguy cơ phát bệnh trầm cảm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Beau P. (1990). Aspects socio-économiques de la dépression.

La dépression. Masson. pp 286-287; 289.

Beaufils B. (1991). Neuro-endocrinologie de la dépression. La dépression. Masson. pp 196-211.

Gerard A. ; Guedj F (2003), Depression chez la femme, les maladie depressives,

Médecine-Sciences-Flâmmrion, pp. 98-106

Guelfi J.D. (2001), Dépression et troubles de la personnalité, Dépressions et comorbidités psychiatriques, Masson, pp. 55.

Lôo H; Lôo P. (1991 ). Qui la dépression touche-t-elle? Donnés épidémiologiques. La dépression. Presses universitaires de France.. pp. 68-74.

Hardy.P ; Gorwood P ; Dupon C ( 2003). Événements de la vie

Les maladies depressives, Médecine-Sciences-Flâmmrion, pp. 434-1441

Kristina .B; Tafforeau (2002). La dépression chez les jeunes. La dépression.
nstitut scientifique de la santé publique
, PH/ P2002-011.
pp. 17```

Rouillon F ; Niro V ( 2003). Épidémiologie

Les maladies depressives, Médecine-Sciences-Flammarion, pp. 434-1441

 
 Thảo luận (Ý kiến của bạn?)   [Đọc sau]   [Trở về]

Tin mới:


Các tin đã đưa:

Xem tiếp >>

Tiêu điểm

  Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới.
Khảo sát tình hình bệnh nhân trầm cảm được điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I năm 2016
Lâm sàng trầm cảm và thay đổi thể tích não ở bệnh nhân qua MIR.
Khảo sát sự phát triển tâm lý - vận động ở trẻ em bằng Test Denver II
Ngày sức khoẻ tâm thần Thế giới năm 2017 (10-10-2017)
Xây dựng quy trình áp dụng kích thích từ xuyên sọ hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid.
  Sức khỏe Tâm thần Tiếp» 
Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới.
Đánh giá một số yếu tố liên quan đến phát bệnh trầm cảm.
Khảo sát tình hình bệnh nhân trầm cảm được điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I năm 2016
 
  Báo cáo ca lâm sàng Tiếp» 
Nhận xét một số đặc điểm tâm lý qua tranh vẽ ở một trường hợp có khó khăn tâm lý
Nhận xét điều trị 5 bệnh nhân tâm thần phân liệt trầm cảm có hành vi đặc biệt nguy hiểm
Báo cáo một trường hợp bệnh tâm thần phân liệt đặc biệt
 
Dành cho Quảng cáo

® BẢN QUYỀN THUỘC BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I
Điện thoại : 04.33853227 - 04.33850050 - 04.33852902 - 04.33850589 - 04.33853534; Fax : 04.33853190
Email :
bvtttw1@yahoo.com.vn : Website : http://www.bvtttw1.gov.vn

(Sử dụng phần mềm quản lý nội dung Website (CMS) của NtSoft Jsc)