Sa sút trí tuệ và vai trò của phục hồi chức năng trong chăm sóc người bệnh tâm thần.

Trong thời đại hiện nay khi kinh tế ngày càng phát triển, việc chăm sóc y tế tốt hơn, tuổi thọ con người ngày càng tăng,  tỷ lệ người già tăng ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên người cao tuổi thường mắc nhiều bệnh mạn tính (tim mạch, tiểu đường, bệnh xương khớp…), đặc biệt là  các rối loạn tâm thần ở người già. Sa sút trí tuệ là bệnh nặng nề nhất và thường gặp trong tỷ lệ bệnh tăng theo lứa tuổi. Ở Việt Nam, theo một nghiên cứu tại cộng đồng tỷ lệ người già bị sa sút trí tuệ chiếm 7,9% .

Sa sút trí tuệ ở người già thường gặp với nhiều biểu hiện như rối loạn trí nhớ, vong ngôn, vong tri, vong hành, rối loạn cảm xúc, rối loạn loạn  thần…. Ở Việt Nam cho tới nay đã có một số công trình nghiên cứu về sa sút trí tuệ.

I. Khái quát chung

  1. Khái niệm sa sút trí tuệ

* Nhận thức

Theo quan điểm triết học nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan, diễn ra từ thấp đến cao, từ biết ít đến biết nhiều, từ nhận thức cảm tính (Cảm giác, tri giác, biểu tượng) đến nhận thức lý tính (Khái niệm, phán đoán, suy lý)

Theo quan điểm y học nhận thức là những chức năng thần kinh cao cấp. Hoạt động nhận thức cho phép con người có được sự hiểu biết, kiến thức, trí tuệ và thích nghi được với môi trường xung quanh, tự nhiên cũng như xã hội.

Hoạt động nhận thức thực hiện nhờ vào sự tổng hợp các chức năng nhận thức riêng biệt. Các hoạt động chức năng này luôn phụ thuộc nhau, hỗ trợ và bổ xung lẫn nhau và là điều kiện của nhau, trong đó trí nhớ đóng vai trò trung tâm. Nhờ trí nhớ mà con người duy trì khả năng thích nghi của mình.Tuy nhiên cùng với tuổi tác mà hoạt động này có xu hướng giảm sút.

*Sa sút trí tuệ

Hội chứng sa sút trí tuệ được đặc trưng bởi sự suy giảm nhiều chức năng cao cấp của vỏ não mà không rối loạn ý thức. Các chức năng nhận thức bị ảnh hưởng bao gồm: Trí nhớ, tư duy, định hướng, nhận biết, tính toán, ngôn ngữ, phán đoán, các năng lực học tập và xã hội. Các triệu chứng này gây suy giảm và trở ngại đáng kể cho các hoạt động nghề nghiệp, xã hội, hoạt động sống hàng ngày của người bệnh. Suy giảm trí nhớ là tiêu chuẩn hàng đầu trong chẩn đoán sa sút trí tuệ .

Sa sút trí tuệ là hội chứng suy giảm nhận thức mắc phải, kèm theo những thay đổi hành vi và mất chức năng xã hội. Giảm trí nhớ là biểu hiện quan trọng nhất bắt buộc phải có, nhưng biểu hiện này có thể bị che mờ bởi các triệu chứng khác trong một số trường hợp nhất là sa sút trí tuệ thể Levy và sa sút dưới vỏ. Hầu hết các trường hợp sa sút trí tuệ tiến triển nặng dần và không hồi phục .

Bệnh nhân sa sút trí tuệ có sự suy giảm và rối loạn các hoạt động nhận thức còn nhiều rối loạn tâm thần và hành vi. Các rối loạn tâm thần thường gặp như rối loạn cảm xúc (trầm cảm, bàng quan), triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo giác, rối loạn hành vi. Hoang tưởng thấy ở 30 -73%, ảo giác thấy ở 20 – 40% trong số bệnh nhân sa sút trí tuệ .

Sa sút trí tuệ có thể khởi phát ở tuổi trẻ song chủ yếu là lứa tuổi già. Một số nghiên cứu cho thấy ở lứa tuổi 65 tỷ lệ sa sút trí tuệ là 5%, cứ tăng thêm 5 tuổi thì số lượng người sa sút trí tuệ tăng thêm 2 lần, đến 80 tuổi thì một phần ba số người già mắc hội chứng này. Đặc điểm quan trọng của sa sút trí tuệ là triệu chứng diễn biến từ từ, nặng dần và không thể đảo ngược được. Cuối cùng bệnh nhân mất hết khả năng sinh hoạt độc lập, phụ thuộc hoàn toàn vào người khác và thường tử vong do nhiễm khuẩn.

Nguyên nhân gây sa sút trí tuệ rất đa dạng và có thể phát hiện được. Tuy nhiên có ít trường hợp không tìm được nguyên nhân. Khả năng hồi phục phụ thuộc bệnh lý nằm bên dưới và liệu pháp điều trị. Bệnh nhân sa sút trí tuệ do các nguyên nhân có thể điều trị được (15%), nếu phát hiện và điều trị kịp thời các tổn thương sẽ hồi phục.

  1. Lịch sử nghiên cứu và tỷ lệ gặp

Năm 1907, Giáo sư Alois Alzheimer người Đức đã mô tả bệnh cảnh lâm sàng ở một BN nữ mà ông gọi tên là bệnh sa sút trước tuổi già, sau này Kraepelin đặt tên bệnh Alzheimer . Kể từ đó đến nay nhiều tác giả trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu  vấn đề này. Năm 1991, Rocca WA và cộng sự nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ bệnh tăng theo lứa tuổi: 5% ở người trên 65 tuổi, 20% ở người trên 80 tuổi .

Năm 2000, Nguyễn Kim Việt nghiên cứu quần thể 8965 người dân thành phố Thái Nguyên nhận thấy tỷ lệ người có biểu hiện sa sút trí tuệ là 0,64%, trong đó ở quần thể người trên 60 tuổi sa sút trí tuệ chiếm 7,9% .

Sa sút trí tuệ là bệnh thường gặp của người già. Theo tài liệu Hướng dẫn thực hành điều trị BN mắc Alzheimer và các dạng sa sút trí tuệ tuổi già khác của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ, sa sút trí tuệ thường gặp ở các độ tuổi 60, 70 và trên 80, hiếm thấy rối loạn này xuất hiện ở độ tuổi 40 và 50 . Nguyên nhân thường gặp của sa sút trí tuệ là Azheimer (chiếm 75%). Dạng hay gặp thứ hai là sa sút trí tuệ do mạch máu, liên quan đến các bệnh mạch máu não (15- 30%). Sa sút trí tuệ mạch máu thường gặp nhất ở nhóm tuổi 60 và 70, gặp nhiều ở nam hơn nữ. Khoảng 10 – 15% BN mắc sa sút trí tuệ mạch máu kèm theo sa sút trí tuệ loại Alzheimer .

Các nguyên nhân khác của sa sút trí tuệ như chấn thương sọ não, liên quan đến rượu, bệnh Huntington và Parkinson….mỗi nguyên nhân chiếm 1-5%.

Hiện nay ước tính có khoảng 18 triệu người trên thế giới sa sút trí tuệ. Ở Mỹ, nhóm người trên 65 tuổi có 5% sa sút trí tuệ nặng, 15% sa sút trí tuệ nhẹ; nhóm người trên 80 tuổi có 20% sa sút trí tuệ nặng. Trong tâm thần học người già, sa sút trí tuệ là bệnh hay gặp sau trầm cảm. Ước tính năm 2050 có khoảng 11- 16 triệu người Mỹ trên 65 tuổi bị sa sút trí tuệ, và 60% ở số người trên 85 tuổi .

Theo Nguyễn Ngọc Hòa (2006) nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc và một số yếu tố liên quan đến sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (cũ) tỷ lệ sa sút trí tuệ ở người cao tuổi chiếm 4,6 %, tỷ lệ này tăng theo tuổi.

II. Phân loại sa sút trí tuệ

Dựa vào tiến triển và mức độ suy giảm trí nhớ và các rối loạn chức năng có thể chia SSTT làm ba mức độ hay còn gọi là ba giai đoạn .

  1. Sa sút trí tuệ mức độ nhẹ:

Triệu chứng nổi bật nhất là giảm trí nhớ gần hay trí nhớ ngắn hạn. Người bệnh thường biểu hiện dưới hình thức nhắc lại một câu hỏi đã hỏi nhiều lần, thậm chí hai câu hỏi cùng một nội dung được nhắc lại cách nhau vài phút, hoặc hay đi tìm đồ dùng cá nhân vì quên mất không nhớ chúng được để ở đâu. Người bệnh không nhớ những từ ngữ hàng ngày nên thường diễn đạt vòng vo. Sinh hoạt thường ngày như tắm giặt, bật tắt thiết bị quen dùng , quản lý nội trợ, quản lý tiền bạc ngày càng trở nên khó khăn. Suy giảm trí nhớ là chìa khóa để chẩn đoán hội chứng sa sút trí tuệ.

Các rối loạn cảm xúc và sự suy giảm khả năng học các kiến thức, kỹ thuật mới xuất hiện từ trong giai đoạn sớm của sa sút trí tuệ. Cảm xúc dao động giữa hai cực trầm cảm và hưng cảm. Người bệnh thay đổi tính tình như trở nên khó tính hơn, dễ nóng giận và xúc động. Trong giai đoạn này một số người bệnh vẫn còn khả năng bù trừ những thiếu sót về trí nhớ nếu họ được sinh hoạt trong khung cảnh quen thuộc và sử dụng các biện pháp phụ trợ trí nhớ. Những thiếu sót về nhận thức và hành vi sẽ dễ dàng bộc lộ nếu họ bị rơi vào những tình huống hoặc hoàn cảnh mới.

  1. Sa sút trí tuệ mức độ trung bình:

Giai đoạn này người bệnh rối loạn trí nhớ nặng hơn, ngôn ngữ thiếu lưu loát. Người bệnh vụng về trong sinh hoạt hàng ngày như sử dụng các trang thiết bị trong gia đình, khó khăn trong mua sắm tính toán. Người bệnh thực hiện khó khăn hay không thực hiện được các hoạt động thường ngày: nấu cơm, pha trà, lựa chọn quần áo phù hợp có trường hợp quên cả cách cài cúc áo… Người bệnh mất dần khả năng thu nhận những thông tin mới. Họ không lưu giữ được các thông tin về môi trường xung quanh, do đó bị rối loạn định hướng nặng về không gian và địa lý. Người bệnh có thể lạc khi ra khỏi nhà và một số khác lạc ngay trong nhà mình. Do rối loạn định hướng và khả năng nhận xét, phán đoán nên người bệnh dễ gặp các tai nạn (ngã), giảm khả năng lao động và nghề nghiệp. Người bệnh có hoang tưởng nhiều hơn, nghi ngờ những người xung quanh. Các rối loạn hành vi khác thường gặp và nặng nề : Kích động tấn công người khác, tình dục bất thường….

  1. Sa sút trí tuệ mức độ nặng:

Đây là giai đoạn cuối của bệnh. Người bệnh mất toàn bộ khả năng tự phục vụ và chăm sóc bản thân trong sinh hoạt hàng ngày. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào người khác vì không thể tự ăn uống, tiểu tiện, tắm rửa, di chuyển. Người bệnh mất cả trí nhớ gần và trí nhớ xa, không còn nhận biết người thân trong gia đình. Người bệnh vong ngôn, vong tri, vong hành. Người bệnh thường nằm liệt giường, có nguy cơ thiếu dinh dưỡng, viêm phổi, loét…

III. Bệnh nguyên

Sa sút trí tuệ là tình trạng bệnh lý của hệ thống thần kinh do nhiều nguyên nhân khác nhau: Pick, Alzheimer, mạch máu… nhưng Alzheimer, và do mạch máu là nguyên nhân phổ biến nhất .

  1. Sa sút trí tuệ trong Alzheimer

Bệnh thoái hóa thần kinh nguyên phát chưa rõ nguyên nhân (di truyền, nhiễm virus, nhiễm độc nhôm….). Bệnh biểu hiện bằng những biến đổi đặc trưng trong não với sự teo não lan tỏa. Các nếp nhăn vỏ não, khe rãnh và não thất giãn rộng. Các biến đổi sinh hóa thần kinh bao gồm sự giảm sút rõ rệt các chất dẫn truyền thần kinh Acetylcholine và các chất dẫn truyền điều chỉnh thần kinh khác.

  1. Sa sút trí tuệ trong bệnh mạch máu

Nguyên nhân do các ổ nhồi máu rải rác. Bệnh hay gặp ở nam giới có bệnh cao huyết áp hoặc có nguy cơ tim mạch. Sự xuất hiện cao huyết áp có thể dự đoán tiến triển của sa sút trí tuệ ở người trung tuổi. Cao huyết áp là nhân tố nguy hiểm cho bệnh mạch máu và suy giảm nhận thức.

  1. Bệnh Pick

Bệnh đặc trưng bởi sự teo não ưu thế vùng trán, thái dương. Các vùng này mất tế bào thần kinh, các đám tế bào không nhân. Nguyên nhân vẫn chưa biết rõ, bệnh thường gặp ở nam giới đặc biệt ở những người có bố hay mẹ bị bệnh.

  1. Bệnh Creutzfedt – Jakob

Bệnh não thoái triển và tiến triển. Tác nhân gây bệnh có thể do lan truyền (ví dụ: nhiễm trùng…). Bệnh có thể lan truyền do lây nhiễm, do cấy ghép hoặc qua các dụng cụ phẫu thuật, tiêm truyền và đây là bệnh hiếm gặp.

  1. Bệnh Huntington

Còn gọi là sa sút trí tuệ dưới vỏ, trong đó có nhiều triệu chứng về vận động (vận động chậm chạp, khó thực hiện một nhiệm vụ phức tạp) trong khi trí nhớ, ngôn ngữ,… còn được duy trì khá lâu đến tận giai đoạn sa sút trí tuệ nặng. Các rối loạn vận động thường gặp là múa giật, múa vờn…

  1. Bệnh Parkinson

Parkinson là bệnh lý tổn thương thoái hóa nhân xám, nhân bèo và tiến triển mạn tính. Parkinson là một trong những nguyên nhân gây sa sút trí tuệ, trầm cảm, các triệu chứng như hoang tưởng và ảo giác. Người bệnh Parkinson có các biểu hiện sa sút trí tuệ chiếm tỷ lệ 20 – 30%.

IV. Đặc điểm lâm sàng sa sút trí tuệ

Các triệu chứng chính của sa sút trí tuệ gồm : Các triệu chứng về suy giảm nhận thức, các rối loạn cảm xúc, hành vi và loạn thần.

  1. Suy giảm nhận thức – dấu hiệu đặc trưng của sa sút trí tuệ

Suy giảm trí nhớ

Suy giảm trí nhớ là triệu chứng đặc trưng sớm điển hình và nổi bật của sa sút trí tuệ, đặc biệt ở người bệnh Alzheimer. Ở thời kỳ đầu, suy giảm trí nhớ có thể nhẹ và thường rõ nhất với các sự việc mới xảy ra. Ở thời kỳ sau, suy giảm trí nhớ ngày càng nặng và quên cả sự kiện ngày hôm trước, tuần trước, tháng trước. Dần dần người bệnh quên các sự kiện quan trọng liên quan đến cuộc sống cá nhân như nơi sinh, năm sinh, tên vợ (chồng). Suy giảm trí nhớ xuất hiện từ từ kín đáo, tiến triển ngày một nặng dần và lan tỏa. Ở người bệnh Alzheimer suy giảm trí nhớ tiến triển theo quy luật Ribot: Các sự kiện mới xảy ra bị quên trước rồi lan tỏa dần đến các sự kiện trong quá khứ gần, quá khứ xa.

* Rối loạn định hướng

Khả năng định hướng suy giảm từng bước. Rối loạn định hướng không gian thời gian, địa lý rất rõ rệt trong người bệnh Alzheimer. Tuy nhiên rối loạn định hướng có thể rất trầm trọng nhưng ý thức người bệnh không bị rối loạn.

* Rối loạn ngôn ngữ

Rối loạn ngôn ngữ là triệu chứng quan trọng trong chẩn đoán sa sút trí tuệ do tổn thương vỏ não (Alzheimer, sa sút trí tuệ do bệnh mạch máu…). Triệu chứng điển hình và được dùng làm tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ trong DSM – IV là vong ngôn.

– Vong tri : giảm hoặc mất khả năng nhận biết, gọi tên đồ vật, đối tượng, mặc dù các cơ quan cảm giác, giác quan không bị tổn thương

– Vong hành : người bệnh không làm được những hoạt động có mục đích theo yêu cầu bằng lời nói hay bắt chước trong khi không tổn thương hệ thống vận động hay cảm giác.

* Các thay đổi nhân cách

Người bệnh sa sút trí tuệ trở nên hướng nội, ít quan tâm hơn trước kia về những hậu quả hành vi của mình đối với những người xung quanh. Người bệnh sa sút trí tuệ có hoang tưởng, hội chứng paranoid thường thù ghét các thành viên trong gia đình hoặc người chăm sóc mình. Người bệnh mất dần các ham muốn thích thú cũ, trở nên cáu kỉnh, độc đoán. Người bệnh trở nên bủn xỉn, hoài nghi, ghen tuông vô lý, trẻ con hóa, ăn mặc cẩu thả, cóp nhặt bẩn thỉu.

Tiến triển của sa sút trí tuệ là sự thoái triển dần dần và cuối cùng là suy kiệt, bội nhiễm và tử vong. Tuổi bắt đầu và tốc độ thoái triển của bệnh khác nhau ở các thể sa sút trí tuệ. Khi người bệnh được chẩn đoán là sa sút trí tuệ cần được khám toàn diện về nội khoa và thần kinh vì 15% bệnh nhân sa sút trí tuệ do những nguyên nhân có thể điều trị được như các bệnh lý mạch máu, nhiễm độc… và việc điều trị cần được tiến hành trước khi các tổn thương não vĩnh viễn xuất hiện.

Sự khởi phát các triệu chứng từ từ gặp trong sa sút trí tuệ trong bệnh Alzheimer, bệnh lý nội tiết, rối loạn chuyển hóa. Khởi phát đột ngột hay gặp ở sa sút trí tuệ do tai biến mạch não, sa sút trí tuệ do sang chấn sọ não, viêm não, …

Các triệu chứng sa sút trí tuệ có thể tiến triển chậm lại và thuyên giảm dưới tác dụng điều trị dược lý, tâm lý xã hội và do khả năng tự điều chỉnh. Trường hợp sa sút trí tuệ do căn nguyên có thể điều trị được nếu can thiệp kịp thời sa sút trí tuệ có thể hồi phục gần như hoàn toàn. Mức độ nặng nhẹ của tiến triển sa sút trí tuệ cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như trí thông minh và sự giáo dục trước khi bị bệnh. Trí thông minh và sự giáo dục càng tốt thì khả năng bù trừ cho các thiếu sót suy giảm trí tuệ càng nhiều. Những bệnh nhân sa sút trí tuệ khởi phát nhanh tiên lượng kém hơn bệnh nhân sa sút trí tuệ khởi phát từ từ. Lo âu, trầm cảm có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng sa sút trí tuệ. và các biểu hiện suy giảm nhận thức. Việc chẩn đoán trầm cảm ở người bệnh sa sút trí tuệ vì vậy trở nên khó khăn.

  1. Rối loạn cảm xúc và hành vi – Những thay đổi thường gặp nhưng dễ bị bỏ qua

Ngoài suy giảm nhận thức, nhiều người bệnh xuất hiện các thay đổi rõ rệt về cảm xúc và hành vi. Một số người trở nên buồn bã, mất hứng thú với các hoạt động yêu thích hoặc thu mình, hạn chế giao tiếp với người thân và cộng đồng.

Lo âu cũng là biểu hiện khá phổ biến. Người bệnh có thể liên tục lo lắng, sợ hãi khi ở một mình hoặc thường xuyên tìm kiếm sự hiện diện của người thân để cảm thấy an toàn.

Ở một số trường hợp, người bệnh trở nên dễ cáu gắt, nóng nảy hoặc phản ứng quá mức trước những thay đổi nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày. Tình trạng kích động, đi lại liên tục, la hét hoặc bồn chồn không yên cũng có thể xuất hiện, đặc biệt vào buổi chiều tối.

Một biểu hiện đáng chú ý khác là sự thờ ơ, mất động lực. Người bệnh không còn hứng thú với các hoạt động trước đây, ít chủ động giao tiếp và giảm sự tham gia vào các sinh hoạt gia đình.

  1. Triệu chứng loạn thần làm tăng khó khăn trong chăm sóc

Khi bệnh tiến triển đến giai đoạn trung bình hoặc nặng, một số người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng loạn thần.

Hoang tưởng là triệu chứng thường gặp nhất. Người bệnh có thể cho rằng người khác lấy cắp tiền bạc, đồ đạc của mình hoặc nghi ngờ người thân có ý định làm hại họ. Những suy nghĩ này thường khiến người bệnh căng thẳng, mất lòng tin và dễ xảy ra xung đột với người chăm sóc.

Ảo giác, đặc biệt là ảo thị giác, cũng có thể xuất hiện. Người bệnh nhìn thấy người lạ, trẻ em hoặc động vật không có thật trong nhà. Mặc dù những hình ảnh này không tồn tại nhưng đối với người bệnh, chúng hoàn toàn chân thực và có thể gây ra cảm giác sợ hãi hoặc kích động.

Một số trường hợp còn không nhận ra người thân quen thuộc, thậm chí cho rằng người thân đã bị thay thế bởi một người khác giống hệt về hình dáng.

V. Vai trò của phục hồi chức năng

Mặc dù hiện nay chưa có phương pháp điều trị khỏi hoàn toàn phần lớn các trường hợp sa sút trí tuệ, nhưng phục hồi chức năng đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì khả năng hoạt động, làm chậm sự suy giảm chức năng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

  1. Mục tiêu của phục hồi chức năng là:

– Duy trì tối đa khả năng nhận thức còn lại.

– Tăng cường khả năng tự chăm sóc.

– Cải thiện giao tiếp và tương tác xã hội.

– Giảm các rối loạn hành vi và cảm xúc.

– Hỗ trợ gia đình trong quá trình chăm sóc người bệnh.

  1. Các hình thức phục hồi chức năng

– Luyện tập nhận thức thông qua các hoạt động như:

– Ghi nhớ hình ảnh, từ ngữ.

– Trò chơi trí tuệ.

– Đọc sách, kể chuyện.

– Nhận biết thời gian, địa điểm, con người.

– Ôn lại các sự kiện quen thuộc trong cuộc sống.

Các hoạt động này giúp kích thích hoạt động não bộ và duy trì chức năng nhận thức.

Người bệnh tham gia trò chơi trí tuệ tích cực.

  • Hoạt động trị liệu người bệnh được hướng dẫn thực hiện các hoạt động phù hợp với khả năng như:

+ Kỹ năng sống cơ bản.

+ Làm vườn, chăm sóc cây cảnh

+ Thủ công đơn giản.

Những hoạt động này giúp duy trì tính độc lập và cảm giác có ích:

Người bệnh tham gia hoạt động làm vườn dưới sự hướng dẫn của KTY.

  • Liệu pháp âm nhạc có thể giúp:

+ Gợi nhớ ký ức.

+ Giảm căng thẳng lo âu và kích động.

+ Cải thiện tâm trạng.

+ Tăng cường giao tiếp và tương tác xã hội.

Đây là phương pháp đơn giản nhưng mang lại hiệu quả tích cực đối với nhiều người bệnh.

Người bệnh, người nhà người bệnh và nhân viên y tế đang thực hiện LPAN.

  • Vận động thể chất các bài tập thể dục nhẹ nhàng như:

+ Đi bộ, đi bộ trên máy tập, đạp xe tập.

+ Chơi các môn thể thao như cầu lông, bóng rổ tại chỗ, bóng bàn…

+ Chuyền bóng gọi tên

+ Các bài vận động theo nhạc.

Giúp cải thiện sức khỏe tim mạch, duy trì khả năng vận động và giảm nguy cơ té ngã.

Người bệnh tham gia hoạt động chuyền bóng gọi tên dưới sự hướng dẫn của KTY.

  • Hỗ trợ tâm lý và xã hội người bệnh cần được:

+ Tôn trọng và lắng nghe.

+ Khuyến khích tham gia các hoạt động tập thể.

+ Duy trì giao tiếp với gia đình và cộng đồng.

+ Hạn chế tình trạng cô lập xã hội.

  1. Vai trò của gia đình

Gia đình là yếu tố quan trọng trong quá trình chăm sóc và phục hồi chức năng. Người chăm sóc cần:

+ Kiên nhẫn và thấu hiểu.

+ Tạo môi trường sống an toàn.

+ Thiết lập lịch sinh hoạt ổn định.

+ Khuyến khích người bệnh tham gia các hoạt động phù hợp.

+ Theo dõi và đưa người bệnh tái khám định kỳ.

Gia đình chăm sóc hỗ trợ người bệnh trong quá trình điều trị.

VI. Phát hiện sớm và phục hồi chức năng có ý nghĩa quan trọng

Các triệu chứng suy giảm nhận thức, rối loạn cảm xúc, hành vi và loạn thần thường đan xen với nhau, tạo nên những khó khăn phức tạp trong quá trình chăm sóc và điều trị. Vì vậy, việc phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường là yếu tố quan trọng giúp người bệnh được thăm khám, chẩn đoán và can thiệp kịp thời.

Bên cạnh điều trị bằng thuốc, các biện pháp phục hồi chức năng như luyện tập nhận thức, hoạt động trị liệu, liệu pháp âm nhạc, vận động thể chất và hỗ trợ tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì khả năng hoạt động, làm chậm quá trình suy giảm chức năng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Sự quan tâm, thấu hiểu và đồng hành của gia đình chính là nguồn hỗ trợ quý giá, giúp người bệnh sa sút trí tuệ duy trì cuộc sống an toàn, ý nghĩa và nhân văn hơn trong suốt quá trình điều trị.

Sản phẩm người bệnh khi tham gia hoạt động nhóm.

Có thể nói sa sút trí tuệ là một bệnh lý mạn tính ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng nhận thức và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Bên cạnh điều trị bằng thuốc, phục hồi chức năng giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì khả năng hoạt động, tăng cường sự độc lập và giúp người bệnh sống có ý nghĩa hơn. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhân viên y tế, gia đình và cộng đồng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc, mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người bệnh sa sút trí tuệ.

 

Viết bài: Khoa Phục hồi Chức năng

Bài viết cùng chủ đề:

slot gacor thestickypig.com koreaneats.com