Tự kỷ là một rối loạn phát triển lan tỏa có mức độ từ nhẹ đến nặng, khởi phát rất sớm trong những năm đầu đời (thường là trước 3 tuổi) và diễn biến kéo dài suốt cuộc đời. Biểu hiện chung nổi bật bao gồm những khiếm khuyết sâu sắc về tương tác xã hội, giao tiếp và các hành vi định hình rập khuôn cùng với ý thích bị thu hẹp.
Việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời rối loạn phổ tự kỷ có vai trò rất quan trọng trong việc mang lại thay đổi tích cực cho trẻ, tăng cường khả năng hòa nhập và cơ hội phát triển cho trẻ. Để giúp cha mẹ có thể nhận diện những dấu hiệu ở trẻ tự kỷ, sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số dấu hiệu nhận biết rối loạn phổ tự kỷ theo độ tuổi và công cụ sàng lọc thường được sử dụng để phát hiện sớm tự kỷ ở trẻ em.
(Hình ảnh minh họa: Trẻ tự kỷ thường chơi một mình, chơi định hình: xếp đồ thành hàng. Nguồn Internet)
(Hình ảnh minh họa một số khó khăn về hành vi, giao tiếp ở trẻ tự kỷ. Nguồn: Internet).
- Dấu hiệu nhận biết Rối loạn phổ tự kỷ ở giai đoạn trẻ em
| Giai đoạn | Dấu hiệu cụ thể |
| Mới sinh đến 6 tháng tuổi | – Dễ la hét, cáu giận
– Không với lấy đồ vật khi đưa trước mặt trẻ – Không có những âm thanh bi bô – Thiếu nụ cười giao tiếp. (Khoảng 2 – 3 tháng tuổi trẻ ít có biểu hiện hóng chuyện, cười, bi bô khi được người lớn gọi hỏi, trò chuyện) – Thiếu giao tiếp bằng mắt. – Không có phản ứng khi được kích thích. – Phát triển vận động có thể bình thường |
| Từ 6 đến 24 tháng | – Không thích âu yếm, cơ thể có thể mềm yếu hay cứng nhắc khi được ôm.
– Không thân thiện với cha mẹ. – Gọi tên hầu như không phản ứng đáp lại. – Không chơi các trò chơi xã hội đơn giản (“Ú à”, “Bye-bye”). – Chưa có dấu hiệu ngôn ngữ (Không bi bô, bập bẹ, không có âm, từ đơn) – Dường như không quan tâm đến các đồ chơi của trẻ em. – Thích nhìn ngắm các bàn tay của mình, – Không nhai hoặc không chấp nhận những thức ăn cứng. – Thích đi kiễng chân – đi bằng 5 đầu ngón chân. – Thường phát ra các âm thanh vô nghĩa. |
| Từ 2 – 3 tuổi | – Thích chơi một mình, không kết bạn, tránh giao tiếp.
– Không nói được từ có hai tiếng trở lên khi đã hai tuổi – Thích xem sách, tạp chí, các nhãn mác và logo quảng cáo – Coi người khác như một công cụ, kéo tay người khác khi yêu cầu – Chưa biết dùng ngón trỏ để chỉ điều trẻ muốn – Sử dụng đồ chơi không thích hợp – Không có nỗi sợ, đồng thời có những hoảng sợ một cách vô cớ – Không hợp tác với sự chỉ dẫn của người lớn – Không biết gật đầu đồng ý và lắc đầu không đồng ý – Tránh giao tiếp bằng mắt, không nhìn thẳng vào người đối diện – Không đoán biết được những nguy hiểm xảy ra – Thích ngửi hay liếm đồ vật |
| Từ 4 – 5 tuổi | – Thích chạy vòng vòng, xoay vòng vòng và quay các loại bánh xe
– Ngừng nói ở bất cứ tuổi nào, dù trước đó đã biết nói – Chậm nói, nếu có ngôn ngữ lời nói thì có thể có chứng nhại lời (lặp lại theo kiểu học vẹt những gì người khác nói) – Có vẻ rất nhớ đường đi và địa điểm – Thích các con số và thích đọc tiếng nước ngoài – Rất tốt khi thao tác các sản phẩm điện tử – Thích nhìn nghiêng hay liếc mắt khi ngắm nghía đồ vật – Không biết chơi tưởng tượng, chơi giả vờ, chơi đóng vai – Giọng nói kỳ cục (chẳng hạn như cách nói nhấn giọng hay đơn điệu) – Rất khó chịu khi thay đổi thói quen hàng ngày – Giao tiếp mắt vẫn còn hạn chế, dù có thể đã có một số cải thiện – Tương tác với người khác gia tăng nhưng vẫn còn hạn chế – Các cơn giận và sự gây hấn vẫn tồn tại nhưng có thể dần dần cải thiện – Tự làm tổn thương mình – Tự kích động |
- Dấu hiệu nhận biết Tự kỷ ở giai đoạn trưởng thành
Trẻ tự kỷ đều có các dấu hiệu từ nhỏ. Tuy nhiên có nhiều trẻ tự kỷ chỉ có một số khó khăn rất nhẹ hoặc có khả năng học tập rất tốt một số môn học đặc biệt là Toán, Tiếng Anh, Tin học nên nhiều cha mẹ có thể bỏ sót các dấu hiệu và chỉ nghĩ con có một chút khó khăn thông thường. Tới tuổi trưởng thành, yêu cầu của việc kết bạn, làm việc nhóm, tham gia các hoạt động tập thể nhiều hơn thì lúc này trẻ biểu lộ khó khăn rõ rệt hơn. Ở lứa tuổi trưởng thành các dấu hiệu của trẻ tự kỷ được xem xét trên các lĩnh vực: mối quan hệ, hành vi và giao tiếp.
| Lĩnh vực | Các dấu hiệu cụ thể |
| Trong các mối quan hê | – Gặp các vấn đề trong phát triển các kỹ năng giao tiếp, nét mặt thiếu biểu cảm và tư thế cơ thể không tự nhiên.
– Không thể thiết lập tình bạn với những người cùng trang lứa. – Gặp khó khăn trong việc quan tâm, chia sẻ, hưởng thụ lợi ích hoặc thành tựu với những người khác. – Thiếu sự đồng cảm: khó khăn trong việc thấu hiểu cảm xúc của người khác, chẳng hạn như đau hoặc buồn rầu. |
| Trong công việc và giao tiếp | – Tiếp thu chậm, học tập kém, ít nói chuyện.
– Khó tiến hành các bước để bắt đầu một cuộc trò chuyện, những người bị rối loạn phổ tự kỉ khó khăn để tiếp tục một cuộc trò chuyện, sau khi đã bắt đầu. – Rập khuôn và lặp đi lặp lại việc sử dụng ngôn ngữ: thường lặp lại hơn một lần một từ hoặc cụm từ mà họ đã nghe nói trước đây. – Khó hiểu ý nghĩa các câu nói ẩn ý của người khác. Ví dụ, một người rối loạn phổ tự kỉ có thể không hiểu rằng ai đó đang muốn tỏ ra vui vẻ, hài hước hay châm biếm. |
| Trong hành vi | Người có rối loạn phổ tự kỉ thường chỉ tập trung vào một bộ phận cụ thể của các món đồ quen thuộc, chẳng hạn như bánh xe trên một chiếc xe, thay vì toàn bộ.
– Sự lo lắng về một chủ đề nhất định. Ví dụ, người lớn có thể bị thu hút bởi trò chơi điện tử, kinh doanh thẻ, hoặc tấm giấy phép. – Rập khuôn hành vi và sở thích. |
- Năm dấu hiệu cờ đỏ nhận biết sớm tự kỷ
Có rất nhiều dấu hiệu để có thể nhận biết tự kỷ tùy theo mỗi giai đoạn lứa tuổi khác nhau. Đa số các nhà chuyên môn ghi nhận năm dấu hiệu dưới đây được gọi là năm dấu hiệu cờ đỏ để nhận biết sớm tự kỷ. Bao gồm:
- Không bập bẹ nói khi 12 tháng
- Không có cử chỉ khi 12 tháng: không biết chỉ tay, vẫy tay, bắt tay, nhìn mắt, cười đáp…
- Không nói được từ đơn khi 16 tháng
- Không tự nói được câu 2 từ khi 24 tháng
- Mất kĩ năng ngôn ngữ, giao tiếp ở bất kì lứa tuổi nào.
Nếu cha mẹ nhận thấy con của mình có một trong các dấu hiệu ở trên thì nên đưa con tới cơ sở y tế để được thăm khám, đánh giá và nhận được lời khuyên phù hợp. Ngoài ra cha mẹ có thể tham khảo bảng đánh giá sàng lọc tự kỷ cho trẻ nhỏ dưới đây để xem trẻ có những dấu hiệu nghi ngờ tự kỷ hay không nhé.
Bảng đánh giá sàng lọc tự kỷ trẻ nhỏ (MCHAT) (phù hợp với trẻ trong độ tuổi 16 – 30 tháng tuổi)
| 1 | Trẻ có thích được đung đưa, nhún nhảy trên chân của bạn không? | Có | Không |
| 2 | Trẻ có quan tâm đến các trẻ khác không? | Có | Không |
| 3 | Trẻ có thích trèo lên đồ vật, cầu thang không? | Có | Không |
| 4 | Trẻ có thích chơi ú òa, trốn tìm không? | Có | Không |
| 5 | Trẻ có biết bắt chước chơi giả vờ không? (VD: nói điện thoại chăm sóc búp bê, chơi giả vờ với các đồ vật khác) | Có | Không |
| 6 | Trẻ có biết dùng ngón tay trỏ đề chỉ hoặc yêu cầu cái gì không | Có | Không |
| 7 | Trẻ đã bao giờ dùng ngón trỏ để chỉ, để thể hiện sự quan tâm đến các thứ xung quanh không? | Có | Không |
| 8 | Trẻ có biết chơi một cách phù hợp với đồ chơi nhỏ (xe hơi, khối gỗ, nhựa) mà không bỏ vào miệng hoặc ném đi không? | Có | Không |
| 9 | Trẻ có biết khoe đồ chơi hoặc những thứ khác không? | Có | Không |
| 10 | Trẻ có nhìn vào mắt bạn một hoặc hai giây không? | Có | Không |
| 11 | Trẻ có bao giờ quá nhạy cảm với tiếng động không? (VD: bịt hai tai) | Có | Không |
| 12 | Trẻ có cười khi thấy bạn hoặc thấy bạn cười không? | Có | Không |
| 13 | Trẻ có bắt chước bạn không? (VD khi làm điệu bộ trên nét mặt trẻ có bắt chước bạn không ?) | Có | Không |
| 14 | Trẻ có đáp ứng khi gọi tên không? | Có | Không |
| 15 | Nếu bạn chỉ tay vào một vị trí khác trong phòng trẻ có nhìn vào không? | Có | Không |
| 16 | Trẻ có biết đi không? | Có | Không |
| 17 | Trẻ có nhìn vào những vật mà bạn đang nhìn không? | Có | Không |
| 18 | Trẻ có làm những cử động ngón tay bất thường ở gần mặt không? | Có | Không |
| 19 | Trẻ có cố gắng làm bạn chú ý đến những hoạt động của trẻ không? | Có | Không |
| 20 | Bạn có bao giờ nghi ngờ trẻ bị điếc không? | Có | Không |
| 21 | Trẻ có hiểu điều người khác nói không? | Có | Không |
| 22 | Thỉnh thoảng trẻ có nhìn một cách vô cảm hay đi thơ thẩn không có mục đích không? | Có | Không |
| 23 | Khi đối mặt với những điều lạ trẻ có nhìn vào mặt bạn để xem phản ứng của bạn không? | Có | Không |
Nếu tất cả các câu trả lời của trẻ đều ở ô “trắng” thì trẻ không có dấu hiệu nghi ngờ tự kỷ. Nếu có trên 3 câu trả lời rơi vào ô bôi xanh bất kì hoặc có từ 2 câu trả lời bôi xanh thuộc các câu chủ chốt (2,7,9,13,14.15) thì những trẻ này có nguy cơ tự kỷ. Việc cần làm của cha mẹ lúc này là nên đưa con tới các cơ sở y tế để được các nhà chuyên môn khám đánh giá. Dưới đây là một số địa chỉ mà cha mẹ có thể đưa con tới khám: Khoa Tâm lý lâm sàng – Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 hoặc Khoa Tâm bệnh – Bệnh viện Nhi trung ương, …. Tại đây các bác sĩ tâm thần Nhi, các cán bộ tâm lý sẽ có những khám xét tổng thể, đánh giá tình trạng phát triển hiện tại của trẻ và đưa ra những kết luận, tư vấn phù hợp cho cha mẹ.
Rối loạn phổ tự kỷ là một rối loạn kéo dài suốt đời. Việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời sẽ giúp cha mẹ có sự hỗ trợ phù hợp dành cho trẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và hòa nhập của trẻ. Việc đưa trẻ đi đánh giá và can thiệp ngay khi có dấu hiệu nghi ngờ không làm tổn hại đến trẻ, ngay cả khi sau đó xác định trẻ không bị tự kỷ. Ngược lại, việc trì hoãn có thể làm mất đi “thời điểm vàng” của can thiệp và làm mất đi cơ hội phát triển tốt nhất mà trẻ xứng đáng có được.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Y tế, Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Tâm thần – Tập 1. Ban hành kèm theo Quyết định số 2531/QĐ-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam, Hỗ trợ phục hồi chức năng cho trẻ em tự kỉ tại Việt Nam. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (2020).
Viết bài: Phòng Đào tạo
- Đại hội đại biểu Công đoàn cơ sở Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 lần thứ XXVI, nhiệm kỳ 2023-2028.
- Mời báo giá: Cung cấp trang thiết bị inox phục vụ hoạt động cho khoa Y học cổ truyền.
- Thực hiện triển khai, đánh giá cơ sở y tế xanh – sạch – đẹp
- Thông báo về việc điều chỉnh thời gian tổ chức phỏng vấn thí sinh dự xét tuyển viên chức đợt 1 năm 2022 (vòng 2)
- Mời báo giá: Cung cấp máy photo copy, máy vi tính và máy in đen trắng.
- Rối loạn cảm xúc – ThS.BS Đàm Văn Đức – Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng
















