Thứ ba, 24/10/2017

 

Trang chủ

Liên hệ

Góp ý

Tìm kiếm

Liên kết Website

Bài được xem nhiều nhất

Lịch sử hình thành...

Nhận biết các dấu hiệu cảnh báo sớm của các bệnh lý tâm thần....

CÁC DỊCH VỤ - KỸ THUẬT KHÁM, CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN...

Chức năng nhiệm vụ của Bệnh viện....

BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT (Schizophrenia)...

Quảng cáo

Mời quảng cáo trên Website

 
 

Thứ tư, 14/06/2017 - 14:13" GMT+7


Page for print!    Send to friend ->

Báo cáo nghiên cứu:
Đánh giá hiệu quả của can thiệp kỹ năng xã hội cho thanh niên tự kỷ chức năng cao
 

                                          ThS. Vũ Văn Thuấn
                                           HVCH. Dương Thị Hoài

       

Tóm tắt: Bài viết nhằm báo cáo lại quy trình đánh giá và đánh giá hiệu quả can thiệp kỹ năng xã hội dành cho thanh niên tự kỷ chức năng cao. Các bộ công cụ đánh giá khác nhau đã được nhà tâm lý kết hợp nhằm đánh giá toàn diện những vấn đề của thân chủ và đưa ra được chiến lược phù hợp. Kết quả nghiên cứu cũng chính là kết quả của quá trình trị liệu sau một năm dừng trị liệu.

Abstract: The article aims to report the assement and evaluation of the effectiveness of social skills interventions for high functioning autism. Different sets of assessment tools have been combined by the psychologist for a comprehensive assessment of client issues and the development of appropriate strategies. The results of the study are also the result of treatment after o­ne year of treatment.

Từ khóa: tự kỷ, kỹ năng xã hội, tự kỷ chức năng cao

Key word: Autism, social skill, high functioning autism

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tự kỷ

Tự kỷ (Autism) hay rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disorder, viết tắt là ASD) đều là những thuật ngữ nói đến một nhóm của các rối loạn phức tạp trong sự phát triển của não bộ. Nhóm rối loạn này được đặc trưng bởi những khó khăn và thiếu hụt trong tương tác xã hội, giao tiếp bằng lời và không lời, các hành vi sở thích định hình lặp lại (DSM-5). Tỷ lệ trẻ được chẩn đoán là tự kỷ tăng lên qua từng năm ở tất cả các nước và khu vực trên thế giới.[1] Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) tỷ lệ trẻ tự kỷ tăng lên là 1/68, trước đó tỷ lệ này là 1/88. CDC cũng thống kê các nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy sự gia tăng của tỷ lệ trẻ tại Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ. Tại Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu dịch tễ nào vềnhóm đối tượng này mà chỉ có những khảo sát ở phạm vi hẹp về nhóm trẻ tự kỷ ở một số thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (Nguyễn Thị Hương Giang, 2011; Vũ Song Hà, 2014) và xu hướng hiện tại cũng tập trung nhiều vào các giải pháp can thiệp sớm. Các can thiệp liên quan đến kỹ năng xã hội dành cho thanh thiếu niên, người lớn tự kỷ còn bỏ ngỏ, chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu.

Thiếu về các lý thuyết thực hành, đặc biệt với trường hợp được báo cáo trong nghiên cứu này, vấn đề của thân chủ chưa được nhận thức đúng đắn cho tới khi thân chủ bước vào tuổi thanh niên. Những khó khăn về lý thuyết và về thực hành thúc đẩy chúng tôi tiến hành và báo cáo lại trường hợp này.

NỘI DUNG

Vấn đề kỹ năng giao tiếp - xã hội ở người tự kỷ

Một trong những đặc trưng cơ bản nhất của rối loạn phổ tự kỷ là sự suy giảm về giao tiếp xã hội và tương tác xã hội trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, cụ thể:

Suy giảm trong trao đổi cảm xúc với mọi người, như là không giao tiếp qua lại bình thường hoặc không thể bắt đầu, đáp ứng với các tương tác.

Suy giảm về hành vi giao tiếp phi ngôn ngữ, như là nghèo nàn về ngôn ngữ và phi ngôn ngữ; bất thường trong các tiếp xúc ánh mắt và ngôn ngữ cơ thể; suy giảm trong sự hiểu biết cũng như sử dụng điệu bộ, cử chỉ hoặc thiếu hụt toàn bộ biểu cảm nét mặt và giao tiếp phi ngôn ngữ (DSM 5).

Người tự kỷ thường có khao khát được tương tác xã hội và các bạn bè dù nhận thức được đây là điều khó để có thể đạt được (Barry và cs, 2003). Đối lập với mong muốn, họ thường có ít bạn, và đối mặt với nguy cơ có thể bị trêu đùa, hoặc bị từ chối bởi bạn cùng trang lứa (Ozonoff & Miller, 1995). Nghiên cứu cũng cho thấy những người tự kỷ đã có bạn cũng thường gặp khó khăn trong việc định nghĩa bạn là gì, và tình bạn của họ cũng chỉ tập trung vào những sở thích thông thường, với sự tương tác tối thiểu (Orsmond, Wyngaarden Krauss, & Seltzer, 2004). Một nghiên cứu gần đây cho thấy rằng mặc dù nhiều trẻ tự kỷ chức năng cao có ít nhất một người bạn nhưng cha mẹ vẫn là người giữ vai trò quan trọng trong việc khởi xướng và duy trì những tương tác với bạn bè chứ không phải tự bản thân trẻ. Ngoài ra, tình bạn của người tự kỷ thường ít ổn định, họ gặp bạn bè không thường xuyên, và tham gia vào các hoạt động ít liên quan đến trao đổi xã hội (Bauminger & Shulman, 2003). Ở một nghiên cứu khác, trong một cuộc điều tra về các mối quan hệ đồng trang lứa của thanh thiếu niên và người lớn tự kỷ, Orsmond và cs. (2004) nhận thấy rằng ít người tự kỷ nào có tình bạn với các bạn cùng lứa mà chỉ bao gồm một loạt các hoạt động, ứng phó, với một vài hoạt động đã được chuẩn bị trước. Gần 50% số người trong nhóm toàn mẫu nghiên cứu không có mối quan hệ đồng trang lứa nào ngoài các mối quan hệ đã được thiết lập sẵn bởi những người khác.

Những khó khăn này có thể được giảm thiểu hoặc khắc phục phần nào nếu người tự kỷ được hỗ trợ thêm về các kỹ năng xã hội thông qua các can thiệp và trị liệu.

Kỹ năng xã hội (KNXH) được định nghĩa như là “Một thuật ngữ chung dùng để mô tả các kỹ năng làm tăng tính hiệu quả của cá nhân trong các tình huống xã hội” (Lamont & Van Horn, 2013). Các kỹ năng này bao gồm một loạt các hành vi có thể học được thông qua tương tác xã hội, hành vi tiền xã hội (prosocial behaviour) – hành vi tự nguyện mang lại lợi ích cho người khác, như giúp đỡ, chia sẻ…; kỹ năng nhận thức xã hội. (Elliott và cs. 1989). Mục đích của những can thiệp về KNXH là giúp cá nhân khuyết tật có thể “thể hiện những cảm xúc, xã hội, nghề nghiệp, gia đình, giải quyết vấn đề và các kỹ năng thông minh cần thiết để sống, học tập và làm việc trong xã hội với sự hỗ trợ tối thiểu” (Myles & Simpson, 2014)

Đào tạo kỹ năng xã hội tập trung vào việc xây dựng những hành vi tích cực, trong đó sử dụng các phương pháp không gây khó chịu cho người học. Bởi vì đào tạo thường được xem như là một dạng can thiệp, nó được thiết kế để khớp với nhu cầu của người học, hoàn toàn trái ngược với việc làm người học phải phù hợp với chương trình có sẵn. Vì thế kế hoạch đào tạo KNXH tương tự như là một kế hoạch hỗ trợ hành vi, được phát triển thông qua việc phân tích chức năng của hành vi, và chỉ ra việc học một kỹ năng mới như là một quá trình mà có mối liên hệ một cách rõ ràng với các hành vi, môi trường và sự can thiệp (DeMatteo và cs., 2012).

Cho đến nay các chương trình đào tạo về KNXH thường hướng đến nhiều mảng khác nhau có liên quan mật thiết đến cuộc sống và nghề nghiệp của người tự kỷ như chương trình ASPiration hỗ trợ về nghề nghiệp (Hillier và cs., 2007); các chương trình can thiệp dựa vào trường học (Barry và cs., 2003); can thiệp tập trung vào cải thiện giao tiếp không lời (Barnhill và cs., 2002); can thiệp giáo dục và đào tạo bạn bè cùng lứa PEER (đã được nghiên cứu về hiệu quả bởi Gantmanvà cs., 2012).

Bài viết này dựa trên nghiên cứu về một trường hợp trẻ tự kỷ chức năng cao, quá trình chẩn đoán, can thiệp và đánh giá hiệu quả sau can thiệp. Bài viết như một sự nhìn nhận lại về toàn bộ quá trình, đưa ra những gợi ý và nhận được gợi ý từ những nhà chuyên môn khác.

Mô tả trường hợp

Thông tin cá nhân

Đ., 22 tuổi, nam giới, sinh năm 1995 hiện đang sống tại Hà Nội, trong gia đình có 4 thành viên. Bố 51 tuổi làm thợ sửa đồng hồ ở nhà, mẹ 48 tuổi là quản lý đại lý nước uống tại Hà Nội. Em trai đang học lớp 11 phát triển bình thường. Hiện Đ đang theo học tại trường cao đẳng Dược năm 2 trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Lý do thăm khám/can thiệp: Đ. gặp khó khăn trong giao tiếp như khó bắt đầu cuộc nói chuyện và khó duy trì giao tiếp, kỹ năng sống kém.

Quá trình đánh giá, chẩn đoán: Để đánh giá toàn diện về khó khăn của Đ. nhiều trắc nghiệm khác nhau đã được sử dụng

-Thang đo hành vi thích nghi Vineland (Vineland Adaptive Behavior Scales, Second Edition) là trắc nghiệm đo đạc mức độ thích nghi về chức năng của một cá nhân từ 0 - 90 tuổi.

-Trắc nghiệm trí tuệ Raven đen trắng dành cho người lớn. Trắc nghiệm Raven là trắc nghiệm không lời, để đo trí tuệ chung, được thiết kế dưới dạng các ma trận hình ảnh và các câu trả lời để lựa chọn.

-Lịch trình Quan sát Chẩn đoán Tự kỷ (Autism Diagnostic Observation Schedule, viết tắt là ADOS) module 3 dành cho thanh thiếu niên để đánh giá về rối loạn phổ tự kỷ và kỹ năng tương tác xã hội, đời sống nội tâm, cảm xúc, hành vi sở thích.

Lịch sử vấn đề

Đ. được bố đưa đến đánh giá với lý do cháu gặp khó khăn trong giao tiếp như khó bắt đầu cuộc nói chuyện và khó duy trì giao tiếp, kỹ năng sống kém. Các khó khăn của Đ. được biểu hiện từ nhỏ.

Gia đình đã đưa đi khám tại nhiều cơ sở y tế khác nhau: Bệnh viện Nhi trung ương (lúc 5 tuổi) với những khó khăn về giao tiếp như không chơi với bạn, thích cầm và chơi một đồ vật rất lâu; khám bác sĩ nội thần kinh (11 tuổi) kết luận là có khó khăn về giao tiếp và được khuyến nghị nên cho ra ngoài nhiều cũng như cho tham gia nhiều các hoạt động xã hội.. Ngoài ra, gia đình cũng cho đến thăm khám tại một vài bệnh viện về tâm thần thì được cho sử dụng trắc nghiệm như MMPI[2], Thang đánh giá về cảm xúc trầm cảm bằng nghiệm pháp Beck, Zung...và đưa ra chẩn đoán vấn đề liên quan đến cảm xúc như trầm cảm, nhân cách và khuyến nghị cho tham gia hoạt động nhiều hơn kết hợp sử dụng thuốc. Gia đình đã cho Đ. tham gia một vài khóa học về kỹ năng sống nhưng tình hình không tiến triển, cháu càng khó khăn trong giao tiếp với bạn bè, càng thu mình và né tránh giao tiếp với người khác

Quá trình học cấp I, cấp II, cấp III, Đ. không có bạn thân, chủ yếu giao tiếp cho qua, và thường rất hiếm khi chủ động hỏi bạn điều gì. Cháu chủ yếu học và đọc sách, đọc truyện. Khi thi đại học năm đầu cháu đỗ Đại học giao thông vận tải với số điểm vừa đủ, tuy nhiên sau năm học đầu cháu không theo được học và không đạt điều kiện để có thể theo học năm 2.

Định hình trường hợp

Đ., 22 tuổi sinh ra trong gia đình có 2 anh em, bố là thợ sửa đồng hồ, mẹ là quản lý đại lý nước uống. Từ nhỏ các vấn đề của Đ đã xuất hiện dưới hình thức khó khăn trong giao tiếp, kỹ năng chơi và mối quan hệ bạn bè. Kết quả thăm khám ở các nơi cho thấy vấn đề khó khăn của cháu nhưng chưa xác định và đưa ra chẩn đoán gọi tên chính xác vấn đề. Nguyên nhân duy trì nên những khó khăn chủ yếu do cháu chưa có và chưa học được các kỹ năng giao tiếp cần thiết từ trước tới giờ.

Quy trình can thiệp

Sau khi được chẩn đoán NTL có buổi trao đổi với Đ về chiến lược trị liệu nhằm hỗ trợ giải quyết vấn đề của Đ. Tiến trình trị liệu chính là quá trình đào tạo KNXH để giúp Đ. học được các kỹ năng như Đ. đang kỳ vọng và được tổ chức dưới hình thức trị liệu nhóm.

Tổ chức nhóm trị liệu

2 thân chủ

Người trị liệu

Giáo viên chính: nhà tâm lý lâm sàng đã được đào tạo

Giáo viên hỗ trợ: sinh viên ngành tâm lý học

Tiến trình trị liệu

2 buổi/ tuần; 60 phút/buổi

Học tại phòng trị liệu và các buổi tại môi trường bên ngoài

Tiến trình của một buổi trị liệu

1. Ôn tập lại các kỹ năng cũ, hỏi về những khó khăn trong quá trình thực hành

2. NTL giới thiệu về kỹ năng; rồi thực hành cùng giáo viên phụ, sau đó NTL sẽ cùng thực hành với từng học sinh và sau đó sẽ hướng dẫn 2 bạn học viên thực hành cùng nhau.

3. Trao đổi về khó khăn khi thực hành kỹ năng đó; về tình huống để áp dụng kỹ năng; trao phần thưởng

4. Giao bài tập về nhà: áp dụng kỹ năng mới trong tình huống nào và thực hành nó với ai.

Chương trình can thiệp

Chương trình “Huấn luyện kỹ năng xã hội dành cho thanh thiếu niên có Asperger và các vấn đề giao tiếp xã hội”

Chương trình “Nối kết – chương trình giáo dục kỹ năng xã hội”

Phương pháp câu chuyện xã hội

Cách thức đánh giá hiệu quả của kế hoạch/ chương trình

Sau khi thực hành xong 5 kỹ năng mà Đ. lựa chọn tại thời điểm lựa chọn sẽ có buổi cùng đánh giá lại mức độ hiểu biết và áp dụng kỹ năng đó tại các tình huống cụ thể thông qua việc NTL hỏi Đ. thực hành trong tình huống đó như thế nào, rồi phụ huynh đánh giá việc áp dụng kỹ năng đó ra sao tại nhà cũng như những nơi công cộng. Cùng với đó, những bài tập thực hành được giao về sau mỗi buổi học kỹ năng cũng giúp cho NTL có cái thể đánh giá quá trình hiểu và áp dụng kỹ năng của Đ. ở mức độ nào.

Kết quả/Thành quả

Trong trị liệu và ngay khi kết thúc trị liệu chúng tôi đã tiến hành đánh giá hiệu quả của trị liệu với chính thân chủ, bố mẹ và giáo viên can thiệp trực tiếp. Kết quả cho thấy những tín hiệu khả quan của can thiệp. Để kiểm định rõ hơn về tính hiệu quả chúng tôi đưa ra hướng đánh giá sau thời gian trị liệu bằng phương pháp phỏng vấn không cấu trúc.

Sau thời gian được hỗ trợ và can thiệp trong 12 tháng Đ đã có những biến chuyển theo ghi nhận từ phía người thân và giáo viên can thiệp. Chúng tôi đã đưa ra câu hỏi “Anh/chị đánh giá như thế nào về các thay đổi của Đ sau khi dừng trị liệu”, kết quả thu được như sau:

Bố thân chủ chia sẻ có cảm thấy Đ có biến chuyển tuy nhiên còn hơi ít. Nếu thang tiến bộ kỹ năng với Đ. thấy lên được điểm 3 trong thang điểm 10. Đ có chủ động hơn trong một số tình huống giao tiếp. Trước đây bảo nó ra nói chuyện với người lạ hoặc họ hàng thì nó ậm ừ, và đứng đờ ra không biết làm gì, giờ nó biết hỏi han, biết nói chuyện chủ đề đơn giản nhưng vẫn thấy dập khuôn mấy mẫu câu hỏi được học trước đó.

Trong các câu chuyện vẫn còn thụ động, không có tính sáng tạo hay thể hiện hào hứng trong khi nói nên người khác có cảm giác chán và không hấp dẫn. Khi đi làm thêm thì nơi đó họ nhận ra khó khăn của thân chú khi thử việc 1 tháng và họ không nhận nữa vì lý do không linh hoạt, bảo gì thì làm đấy, giao tiếp thì chỉ xã giao. Bản thân bố thấy giờ con bây giờ dám nói chuyện với người khác, trước thì không biết nói cái gì với người lạ cả. Cảm xúc cũng tốt hơn trước, biết kiềm chế hơn, bớt hơn hẳn là việc tự nói linh tinh.

Phỏng vấn mẹ của thân chủ, “Cô nhận thấy em có thay đổi, có điều nó vẫn còn thụ động lắm. So với trước đây thì giờ nó đã biết nói chuyện và hỏi han cô về tình hình thế nào, chúc ngày lễ, tết chứ trước thì tuyệt nhiên không bao giờ có. Giờ có hôm nó còn nhắn tin cho cô để chúc mừng cô nữa đấy”..

Bản thân NTL cảm thấy trong thời gian qua đã có những biến chuyển từ phía Đ., từ khoảng cách, ánh mắt giao tiếp, những kỹ năng giao tiếp có lời và không lời từ Đ. đã được tốt hơn và thể hiện trong các tình huống được linh hoạt và đa dạng hơn.

Hiện thân chủ đang đi học thêm văn bằng 2 về Luật, “ở lớp em thấy mình dễ dàng hơn khi bắt đầu cuộc nói chuyện với các bạn tuy nhiên khi các bạn nói hoặc hỏi sâu về chủ đề em không biết nói gì thêm. Em áp dụng hầu hết với các bạn trong lớp, và những người xung quang”. Khi được hỏi nội dung về kỹ năng như vậy Đạt thấy thế nào? Đạt trả lời em thấy phù hợp với em, nhất là có nhiều hình ảnh nên em nhớ tới những hình ảnh đó để em thực hành. Đạt nói được học kỹ năng em thấy tốt cho bản thân mình.

Ở chỗ làm thêm em có chủ động hỏi các bạn về sở thích của các bạn ấy, và có hỏi về ngày sinh nhật của các bạn nữa. Em cũng có nói chuyện qua Zalo và kết bạn facebook với các bạn”.

Bảng: Những thay đổi sau trị liệu

Các kỹ năng mục tiêu

Đánh giá thay đổi

Nhóm kỹ năng bắt đầu chơi cùng bạn

+ +

Nhóm kỹ năng về giao tiếp (bao gồm bắt đầu - duy trì – và kết thúc cuộc hội thoại)

+

Nhóm kỹ năng về cảm xúc (bao gồm hiểu cảm xúc người khác và bộc lộ cảm xúc của bản thân)

+

Nhóm kỹ năng về tự điều chỉnh bản thân

+

Nhóm kỹ năng về qua hành vi cử chỉ

+

Nhóm kỹ năng giúp giải quyết vấn đề

+

Nhóm kỹ năng về ứng xử (khen ngợi người khác)

+

Đánh giá chung của phía gia đình đã cho thấy, Đ có những tiến bộ về các mặt kỹ năng, trong đó nhóm kỹ năng bắt đầu chơi cùng bạn là thay đổi nhiều nhất. Điều này có thể lý do giải một phần do ảnh hưởng của trị liệu, phần khác với sự phát triển của công nghệ, các hình thức trò chuyện mà không cần gặp mặt trực tiếp có thể hữu ích để hỗ trợ cải thiện khả năng giao tiếp của những người có tự kỷ như Đ.

KẾT LUẬN VÀ BÀN LUẬN

Trên đây là trường hợp được đào tạo kỹ năng giao tiếp xã hội dành cho người có rối loạn phổ tự kỷ chức năng cao được chẩn đoán ở giai đoạn thanh thiếu niên.

Trong bối cảnh ở Việt Nam chúng ta mới chỉ đang tập trung nghiên cứu và tác động vào can thiệp sớm còn đối với các trẻ vị thành niên, thanh thiếu niên, người tự kỷ trưởng thành còn chưa được chú ý. Từ nghiên cứu trường hợp này nhóm tác giả cũng mong muốn dần mở rộng hơn nữa các nghiên cứu liên quan đến công tác hỗ trợ dành cho trẻ tự kỷ lớn và người tự kỷ trưởng thành tại các cơ sở can thiệp cũng như tại cộng đồng thông qua các chương trình huấn luyện, đào tạo nhằm giúp người tự kỷ thích nghi tốt hơn.

Nghiên cứu trường hợp Đ. cho thấy những hiệu quả nhất định của việc can thiệp trên cơ sở đánh giá của gia đình và bản thân thân chủ. Những kết quả và đề xuất rút ra từ nghiên cứu hi vọng sẽ là một gợi ý cho các cán bộ, nhà chuyên môn đã và đang làm việc với nhóm đối tượng người tự kỷ chức năng cao lưu ý về quá trình chẩn đoán cũng như những định hướng làm việc trong giai đoạn đầu can thiệp kỹ năng xã hội.

Tài liệu tham khảo

[1].American Psychiatric Association. (2013). Diagnostic and statistical manual of mental disorders (DSM-5®). American Psychiatric Pub,Page 31-85.

[2].Barnhill, G. P., Cook, K. T., Tebbenkamp, K., & Myles, B. S. (2002). The effectiveness of social skills intervention targeting nonverbal communication for adolescents with Asperger syndrome and related pervasive developmental delays. Focus o­n Autism and Other Developmental Disabilities, 17(2), 112-118.

[3].Barry, T. D., Klinger, L. G., Lee, J. M., Palardy, N., Gilmore, T., & Bodin, G. (2003). Examining the effectiveness of an outpatient clinic-based social skills group for high-functioning children with autism. Journal of Autism and Developmental Disorders, 33, 685– 701.

[4].Bauminger, N., & Shulman, C. (2003). The development and maintenance of friendship in high-functioning children with autism. Autism, 7, 81–97.

[5].DeMatteo, F. J., Arter, P. S., Sworen-Parise, C., Fasciana, M., & Paulhamus, M. A. (2012). Social Skills Training for Young Adults with Autism Spectrum Disorder: Overview and Implications for Practice. National Teacher Education Journal, 5(4).

[6].Duong, T. H,Fabre-Welmond, L., Vu, V. T., Dao, N. T., (2016). Xây dựng mô hình đào tạo kỹ năng xã hội cho trẻ rối loạn phát triển. Tạp chí Giáo dục đặc biệt, 6 (2). ISSN 2354-0753

[7].Elliott, S. N., Sheridan, S. M., & Gresham, F. M. (1989). Assessing and treating social skills deficits: A case study for the scientist-practitioner. Journal of School Psychology, 27, 197– 222.

[8].Hillier, A., Campbell, H., Mastriani, K., Izzo, M. V., Kool-Tucker, A. K., Cherry, L., & Beversdorf, D. Q. (2007). Two-year evaluation of a vocational support program for adults o­n the autism spectrum. Career Development for Exceptional Individuals, 30(1), 35-47.

[9].Lamont, A., & Van Horn, M. L. (2013). Heterogeneity in parentreported social skill development in early elementary school children. Social Development,22(2), 384-405.

[10].Myles, B. S., & Simpson, R. L. (2001). Understanding the Hidden Curriculum An Essential Social Skill for Children and Youth with Asperger Syndrome. Intervention in School and Clinic, 36(5), 279-286.

[11].Orsmond, G. I., Krauss, M. W., & Seltzer, M. M. (2004). Peer relationships and social and recreational activities among adolescents and adults with autism.Journal of autism and developmental disorders, 34(3), 245-256.

[12].Ozonoff, S., & Miller, J. N. (1995). Teaching theory of mind: A new approach to social skills training for individuals with autism. Journal of Autism and developmental Disorders, 25(4), 415-433.

Nhóm tác giả

1. ThS. Vũ Văn Thuấn, Khoa Tâm Lý Lâm Sàng, Bệnh viện Tâm thần Trung Ương I, Thường Tín, Hà Nội

Điện thoại: 091 8574 123 – Email: vthuan87@gmail.com

Địa chỉ: Nhà 6 ngách 39 ngõ 639 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội

2. HVCH, Dương Thị Hoài –Chương trình Tâm lý lâm sàng trẻ em và vị thành niên – Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội

Điện thoại: 01674 804 388– Email: duonghoai.psy@gmail.com

Địa chỉ: Nhà 6 ngách 39 ngõ 639 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội




[2] Minnesota Multiphasic Personality Inventory

 
 Thảo luận (Ý kiến của bạn?)   [Đọc sau]   [Trở về]

Các tin đã đưa:

Xem tiếp >>

Tiêu điểm

  Đánh giá hiệu quả của can thiệp kỹ năng xã hội cho thanh niên tự kỷ chức năng cao
Những quy định mới cho một đợt điều trị nội trú tại Bệnh viện năm 2017.
  Giới thiệu các khoa điều trị Tiếp» 
Báo cáo phân loại người bệnh điều trị nội trú theo ICD năm 2016
BÁO CÁO PHÂN LOẠI NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ THEO ICD 10 NĂM 2010
Báo cáo phân loại người bệnh điều trị nội trú theo ICD 10 năm 2008
 
  Các dịch vụ - Kỹ thuật Tiếp» 
CÁC DỊCH VỤ - KỸ THUẬT KHÁM, CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN
Khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách tại địa phương.
 
  Tin khám chữa bệnh Tiếp» 
Đánh giá hiệu quả của can thiệp kỹ năng xã hội cho thanh niên tự kỷ chức năng cao
Những quy định mới cho một đợt điều trị nội trú tại Bệnh viện năm 2017.
 
Dành cho Quảng cáo

® BẢN QUYỀN THUỘC BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I
Điện thoại : 04.33853227 - 04.33850050 - 04.33852902 - 04.33850589 - 04.33853534; Fax : 04.33853190
Email :
bvtttw1@yahoo.com.vn : Website : http://www.bvtttw1.gov.vn

(Sử dụng phần mềm quản lý nội dung Website (CMS) của NtSoft Jsc)