Tâm thần phân liệt (TTPL) là một trong những bệnh loạn thần nặng khá phổ biến ở nước ta cũng như trên thế giới, tiến triển có xu hướng mãn tính, căn nguyên chưa rõ ràng, làm cho người bệnh dần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong. Tình cảm của bệnh nhân trở nên khô lạnh dần, khả năng làm việc học tập ngày một sút kém, người bệnh có những hành vi, ý nghĩ kỳ dị khó hiểu. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, số bệnh nhân tâm thần phân liệt chiếm tỷ lệ 0,6 – 1,5 % dân số. Ở Việt Nam, theo báo cáo của Chương trình Quốc gia năm 2002 về điều tra cơ bản trong cả nước, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt là 0,3 – 1% dân số (trung bình 0,47).
Bệnh biểu hiện bằng nhiều triệu chứng rối loạn tâm thần khác nhau, triệu chứng dương tính và triệu chứng âm tính, các triệu chứng về cảm xúc và nhận thức…
Các triệu chứng âm tính là thể hiện sự tiêu hao mất mát tất cả các mặt của hoạt động tâm thần như: cảm xúc cùn mòn, tư duy nghèo nàn, chậm chạp tâm lý vận động, hoạt động kém, bị động, thiếu sáng kiến, chăm sóc cá nhân kém và giảm sút các hoạt động xã hội . Chính các triệu chứng âm tính này đã gây ra các hậu quả nặng nề cho bản thân người bệnh TTPL, gia đình bệnh nhân và xã hội như: không có việc làm do mất khả năng lao động, không thể tự chăm sóc cá nhân, làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và gia đình trong cộng đồng .
- Các triệu chứng âm tính của bệnh TTPL
+ Theo quan điểm cuả Bleuler triệu chứng âm tính là nền tảng của quá trình phân liệt. Nó biểu hiện sự tiêu hao, mất mát các hoạt động tâm thần sẵn có như mất tính toàn vẹn, tính thống nhất của các hoạt động tâm thần .
Các triệu chứng âm tính của TTPL bao gồm các triệu chứng như những suy giảm trong đáp ứng cảm xúc, lời nói và ý chí. Các triệu chứng âm tính thường là cùn mòn cảm xúc, ngôn ngữ nghèo nàn, thiếu ý chí và động cơ, mất cảm giác và giảm hoạt động.
Hội chứng âm tính trong TTPL là một thành phần riêng biệt của tâm bệnh lý. Các triệu chứng âm tính chủ yếu như cùn mòn cảm xúc và ngôn ngữ nghèo nàn có thể bền vững theo thời gian và ít đáp ứng với điều trị. Các triệu chứng âm tính cũng có thể gặp những BN mắc rối loạn lưỡng cực, trầm cảm.
– Có một sự chồng chéo giữa các triệu chứng âm tính, các triệu chứng trầm cảm và các tác dụng phụ của ATK, và vận động chậm do chứng Parkinson.
– Các mối tương quan của các triệu chứng âm tính: Chứng cứ gần đây cho thấy suy giảm nhận thức trong TTPL phần lớn không liên quan đến các triệu chứng dương tính, đặc biệt là hoang tưởng và ảo giác. Suy giảm nhận thức liên quan đến các triệu chứng âm tính biểu hiện bằng suy giảm về năng lực trí tuệ chung và năng lực ra quyết định.
Có nhiều yếu tố giúp cho tiên lượng bệnh như:
– Kiểu tiến triển bệnh.
– Cơ địa người bệnh: tuổi khởi phát bệnh, nhân cách tiền bệnh lý, có hay không các yếu tố thúc đẩy khởi phát bệnh, có hay không yếu tố di truyền trong gia đình bệnh nhân, tính thâm nhập khó hay dễ.
– Một số các yếu tố như: khởi phát bệnh cấp hay từ từ, cơ cấu triệu chứng âm tính và dương tính trong bệnh cảnh lâm sàng, tính đáp ứng điều trị, có hay không việc phát hiện và can thiệp điều trị sớm.
- Các biểu hiện lâm sàng của triệu chứng âm tính
2.1. Rối loạn cảm xúc
* Phạm vi quan tâm thu hẹp dần. Các mối quan tâm của bệnh nhân ngày càng ít dần,với mọi sự việc hiện tượng xung quanh.
* Mất dần ham thích hứng thú: Các ham muốn trước đây của bệnh nhân bị mất dần theo thời gian rồi cuối cùng thì bệnh nhân không còn thích gì nữa.
* Giảm dần khả năng rung động cảm xúc: Giảm dần tính nhạy cảm về cảm xúc trước các sự kiện gây cảm xúc từ bên ngoài (ngưỡng cảm xúc tăng lên).
* Mất khả năng bày tỏ cảm xúc: Bệnh nhân không có phản ứng cảm xúc với xung quanh, không có khả năng bày tỏ cảm xúc của mình như yêu, ghét, vui, buồn.
Theo Andreasen N.C.(1996), cảm xúc cùn mòn gặp ở 50% bệnh nhân TTPL giai đoạn cấp tính và 50% giai đoạn mạn tính. Theo tác giả có thể đánh giá tình trạng cảm xúc cùn mòn dựa vào việc phân tích yếu tố sau:
* Cử chỉ biểu lộ cảm xúc nghèo nàn: Các hình thức giao tiếp không dùng lời như điệu bộ, cử chỉ biểu lộ cảm xúc của bệnh nhân chỉ còn ở mức tối thiểu. Biểu hiện này gặp nhiều nhất, chiếm 57% số bệnh nhân.
* Nét mặt không thay đổi: Bệnh nhân dường như hiếm có sự thay đổi trên nét mặt tạo nên một bộ mặt lạnh lùng, và có 53% số bệnh nhân có biểu hiện này.
* Lời nói thiếu ngữ điệu: Lời nói của bệnh nhân biểu hiện bằng những âm thanh ở cùng một cung bậc, không có sự nhấn giọng cần thiết hay ngắt câu thích hợp. Rối loạn này gặp ở 53% số bệnh nhân nghiên cứu.
* Giao tiếp ánh mắt nghèo nàn: Trong giao tiếp, sự biểu lộ thái độ, tình cảm qua mắt rất quan trọng. Tuy nhiên ở bệnh nhân có cảm xúc cùn mòn, ánh mắt thường là kém linh hoạt, bệnh nhân thường chỉ nhìn vào điểm cố định và ít có sự thay đổi. 37% bệnh nhân có tình trạng này.
* Cảm xúc bàng quan: Biểu hiện bằng tình trạng mất phản ứng cảm xúc trước các kích thích bên trong và bên ngoài. Biểu hiện này chiếm 30% số bệnh nhân nghiên cứu.
* Thời gian phản ứng với kích thích kéo dài: Sau mỗi câu hỏi, bệnh nhân thường mất nhiều thời gian hơn bình thường để có được câu trả lời. Có 10% trường hợp trong nghiên cứu.
+ Cảm xúc không thích hợp:
* Cảm xúc không thích hợp là trạng thái phản ứng cảm xúc không tương thích với yếu tố kích thích như mỉm cười, cười lớn, khóc nức nở hay có vẻ mặt ngây dại mà không có nguyên nhân thích hợp. Có khoảng 20% số bệnh nhân cấp tính có biểu hiện này.
Theo Kaplan H.I. và Sadock B.J sự mất thống nhất giữa biểu hiện cảm xúc và nội dung tư duy gây ra cảm xúc trái ngược (như người bệnh có thể nói về cái chết của người thân với một nụ cười hoan hỉ) thường gặp ở bệnh nhân tâm thần phân liệt mạn tính. Sự thiếu hòa hợp trong cách biểu lộ cảm xúc như vậy của người bệnh khiến cho những người xung quanh không hài lòng và xa lánh bệnh nhân. Việc đánh giá bằng các trắc nghiệm tâm lý cho thấy bệnh nhân TTPL thường không thể nhận dạng được các trạng thái cảm xúc. Điều đó thể hiện sự thiếu khả năng biểu lộ cảm xúc của bản thân người bệnh để người khác có thể hiểu được. Mức độ cảm xúc cùn mòn và không thích hợp trước các tình huống cụ thể có vai trò quan trọng trong việc đo lường mức độ ảnh hưởng của bệnh tật lên người bệnh.
Người bệnh tham gia ghép hình theo mẫu.
2.2. Rối loạn tư duy
– Tư duy nghèo nàn: Ý tưởng nghèo nàn, vốn từ sử dụng rất ít, nội dung diễn đạt rất đơn điệu.
* Ngôn ngữ nghèo nàn về lượng: Là tình trạng nghèo nàn về vốn từ, giảm sút số lượng từ khi nói. Bệnh nhân có xu hướng trả lời các câu hỏi một cách vắn tắt, rút gọn làm cho lời nói trở nên kém linh hoạt và nhàm chán.
* Ngôn ngữ nghèo nàn về nội dung: Biểu hiện bằng sự giảm sút cơ bản số lượng các ý tưởng được diễn đạt cho dù lời nói có thể vẫn còn trôi chảy. Bệnh nhân gặp khó khăn khi trả lời các câu hỏi và cần có sự gợi ý hay những câu hỏi hướng dẫn để có thể tiếp tục câu chuyện. Ngôn ngữ nghèo nàn cần phân biệt với tình trạng thiếu hợp tác khi giao tiếp. Vì vậy khi phỏng vấn cần chú ý quan sát thái độ hợp tác của người bệnh trong suốt quá trình phỏng vấn cũng như trong từng tình huống cụ thể.
* Tư duy cứng nhắc, mất tính hài hước: Bệnh nhân không có khả năng mềm dẻo, linh hoạt, cơ động trong suy nghĩ. Với các chủ đề khác nhau, bệnh nhân vẫn chỉ có nội dung suy nghĩ tương tự, bảo thủ nào đó. Bệnh nhân không biết đùa, tếu.
* Mất sáng kiến, mất cơ động, học tập, công tác giảm sút dần: Bệnh nhân không còn khả năng sáng tạo, không còn ganh đua, cạnh tranh với bạn bè, đồng nghiệp… hiệu quả học tập và lao động của họ cứ kém dần.
* Tự kỷ: Bệnh nhân sống khép kín trong thế giới riêng kỳ dị, có nhiều hành vi và lời nói rất khó hiểu, nói một mình, cười một mình vu vơ.
* Tư duy chậm chạp: Biểu hiện tình trạng suy nghĩ khó khăn, dòng ý tưởng chậm chạp, sau mỗi câu hỏi phải rất lâu mới trả lời được. Đôi khi người phỏng vấn dễ có cảm giác dường như người bệnh không nghe rõ hay cố tình lảng tránh câu hỏi của mình nên thường nhắc lại câu hỏi vài lần. Thực ra người bệnh vẫn có ý thức với câu hỏi nhưng họ gặp khó khăn trong việc suy nghĩ và tìm cách trả lời sao cho hợp lý nhất.
* Tư duy ngắt quãng: Khi đang nói chuyện, dòng ý tưởng của bệnh nhân dường như bị cắt đứt làm cho bệnh nhân không nói được nữa và một lúc lâu sau đó lại tiếp tục nói sang chủ đề khác. Người bệnh có thể dừng lại ở giữa câu nói hay khi kết thúc một câu nói trong khi nội dung câu chuyện còn dang dở. Khoảng thời gian im lặng có thể là vài giây hay vài phút. Sau đó, khi hỏi về lý do im lặng thì đôi khi bệnh nhân trả lời là do ý tưởng của mình tự nhiên biến mất hay bị ai đó lấy ra khỏi đầu làm cho họ không thể tiếp tục diễn đạt ý tưởng đó nữa.
2.3. Rối loạn hoạt động có ý chí
– Giảm hoạt động có ý chí: Các hoạt động có ý chí của bệnh nhân giảm đi rất nhiều, giảm dần các hoạt động có kế hoạch, nỗ lực cố gắng phấn đấu… Do vậy họ giảm dần khả năng lao động, học tập.
* Giảm các động tác tự nhiên vốn có: Bệnh nhân hiếm khi gợi chuyện mà thường thụ động trả lời các câu hỏi của người phỏng vấn đồng thời ít có các động tác tự nhiên khi trò chuyện như vung tay, xua tay, lắc đầu.
– Tha hóa trong lối sống, tác phong hàng ngày: Bệnh nhân mất dần các khái niệm về nghĩa vụ, quyền lợi, đạo đức, lạm dụng chất, nghiện chất. Họ dần chỉ còn các hoạt động bản năng. Sinh hoạt lôi thôi luộm thuộm mất vệ sinh, không có người thúc giục, bệnh nhân sẽ không tự làm việc gì.
Các rối loạn hoạt động có ý chí thường gặp trong TTPL nữa là: thiếu ý chí, kém chăm sóc cá nhân, kém hoạt động xã hội, cách ly xã hội và các rối loạn vận động.
* Thiếu ý chí: Thiếu ý chí được biểu hiện bằng tình trạng mất khả năng khởi đầu có ý chí, duy trì và kiểm soát các hoạt động hướng mục đích. Từ sự suy giảm ý chí sẽ dẫn đến xu hướng thụ động và thiếu sáng kiến cùng với kém hiệu quả trong các hoạt động chăm sóc bản thân, trong gia đình và xã hội.
* Kém chăm sóc cá nhân và kém hoạt động xã hội: Biểu hiện của bệnh nhân là ăn mặc lôi thôi, luôn phải nhắc nhở, thúc giục trong việc vệ sinh cá nhân như cắt tóc, cạo râu, gội đầu, rửa mặt, tắm rửa, thay quần áo. Chính vì vậy họ ít dành được thiện cảm của mọi người xung quanh trong cộng đồng.
* Lười lao động: Trong công việc và học tập, bệnh nhân thường tỏ ra lười nhác, thụ động và kém sáng kiến, cần phải nhắc nhở vì thế hiệu suất công việc và thành tích học tập giảm sút đáng kể và dần dần dẫn đến tình trạng bệnh nhân từ chối tham gia vào bất kỳ hoạt động công việc hay học tập nào. Giảm các công việc và xã hội là kết quả của tính thụ động, thiếu sáng kiến, trạng thái vô cảm, mất năng lực và mất ý chí.
* Cách ly xã hội: Từ sự suy giảm hiệu quả trong các hoạt động xã hội dần dần sẽ dẫn tới cách ly với xã hội và được biểu hiện bằng tình trạng mất sự đồng cảm với mọi người, mất đi sự cởi mở trong giao tiếp cũng như sự gần gũi, hứng thú quan tâm đến người xung quanh như người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp. Điều này được thể hiện qua sự xa cách với mọi người trong giao tiếp lời nói và giao tiếp không dùng lời. Từ sự giảm sút trong các mối quan hệ như vậy sẽ dẫn tới chỗ bệnh nhân hoàn toàn không muốn tiếp xúc, xa lánh tất cả mọi người, cách ly xã hội, không tham gia vào bất kỳ hoạt động nào bên ngoài có xu hướng thu rút vào những hoạt động tự kỷ bên trong của riêng mình mà chỉ có bệnh nhân mới có thể hiểu được. Lúc này bệnh nhân hoàn toàn xa lánh và tách khỏi thế giới hiện thực xung quanh và bị thu hút bởi các ý nghĩ và cảm giác bắt nguồn từ nội tâm với các hoạt động tự kỷ đến mức lệch lạc trong định hướng về thực tại và hành vi thích ứng
* Hành vi kỳ quái trong thế giới tự kỷ: BN có nhiều hành vi bất thường không thể nào hiểu được và chúng ta cũng không thể giải thích được theo các logic và quy luật thông thường và cũng không dự đoán được, chỉ có bệnh nhân với hiểu được. Một số bệnh nhân có thể có cách ăn mặc kỳ dị, không bình thường với nhiều mầu sắc loang lổ hay thêm thắt những chi tiết kỳ quặc như đeo chuỗi dây, đeo vòng tay bằng dây thừng
* Các rối loạn vận động: Biểu hiện là họat động chậm chạp, giảm các hoạt động tự nhiên vốn có.
– Mất vận động, mất động tác hay hoạt động chậm chạp: Các cử động và động tác rất chậm chạp làm cho bệnh nhân khó khăn trong các sinh hoạt tối thiểu cũng như trong lao động và học tập.
– Giảm các động tác tự nhiên vốn có: Là rối loạn vận động hay gặp trong TTPL mạn tính và cũng là biểu hiện của rối loạn cảm xúc như đã mô tả ở phần trước.
Điều dưỡng chăm sóc người bệnh trong giờ ăn.
2.4. Rối loạn hoạt động bản năng
Các rối loạn hoạt động bản năng hay gặp trong TTPL là rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống và rối loạn bản năng tình dục .
* Rối loạn giấc ngủ: Thường là ít ngủ, khó đi vào giấc ngủ nhất là trong giai đoạn khởi phát của TTPL. Ở giai đoạn mạn tính lại thường gặp ngủ nhiều, bệnh nhân hầu như ngủ suốt ngày và đêm, hoặc có khi người bệnh ngủ ban ngày nhưng lại thức về đêm (đảo lộn nhịp thức ngủ).
* Rối loạn ăn uống: Ăn ít hay không ăn thường gặp ở giai đoạn khởi phát và toàn phát trong khi đó ở giai đoạn mạn tính thì bệnh nhân có thể ăn nhiều, ăn vô độ, ăn bẩn thậm chí là ăn thức ăn sống.
* Rối loạn bản năng tình dục: Thường gặp trong TTPL là giảm hoặc mất ham muốn tình dục. Ở giai đoạn mạn tính có thể gặp giải tỏa bản năng tình dục như thủ dâm, loạn dục với súc vật.
2.5. Rối loạn nhận thức
– Rối loạn chú ý: Rối loạn chú ý có thể gặp ở các khía cạnh: khả năng duy trì sự chú ý, chú ý có chọn lọc, khoảng thời gian tập trung chú ý, khả năng di chuyển chú ý.
– Rối loạn trí nhớ: Không phải là nổi bật trong các rối loạn loạn thần như TTPL, người ta vẫn thấy có những bằng chứng là các bệnh nhân TTPL mãn tính có hiện tượng quên toàn bộ (cả thuận chiều và ngược chiều).
– Rối loạn trí tuệ: Một số nghiên cứu trước đây cho rằng sự suy giảm trí tụê đã có ngay ở giai đoạn trước loạn thần và kéo dài suốt trong quá trình bệnh lý với mức độ sa sút ngày càng trầm trọng
- Phục hồi chức năng tâm lý xã hội giúp người bệnh tái hòa nhập cộng đồng hiệu quả.
Triệu chứng âm tính là nhóm triệu chứng cốt lõi và dai dẳng trong tâm thần phân liệt bao gồm: giảm cảm xúc, giảm động lực, giảm giao tiếp xã hội, giảm hoạt động và suy giảm chức năng nhận thức xã hội. Các triệu chứng này ít đáp ứng với thuốc, nhưng lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng học tập lao động, tự chăm sóc và hòa nhập cộng đồng.
Do đó phục hồi chức năng tâm lý – xã hội giữ vai trò trung tâm trong điều trị toàn diện và là quá trình can thiệp có hệ thống nhằm giảm thiểu khuyết tật tâm thần, phục hồi chức năng bị suy giảm và nâng cao khả năng thích ứng xã hội của người bệnh. Khác với điều trị thuốc chủ yếu tác động lên sinh học thần kinh thì phục hồi chức năng tâm lý xã hội tác động đa chiều thông qua cơ chế tâm lý, hành vi và xã hội, từ đó mang lại hiệu quả lâu dài và bền vững.
Người bệnh tham gia thể dục thể thao dưới sự hướng dẫn của KTY.
3.1. Mục tiêu của phục hồi chức năng tâm lý xã hội
– Tăng động lực, tính chủ động và mức độ tham gia hoạt động
– Cải thiện giao tiếp và kỹ năng xã hội
– Phục hồi chức năng sinh hoạt hằng ngày
– Củng cố lòng tự trọng và cảm giác có giá trị bản thân
– Giảm lệ thuộc, tăng tính tự lập
3.2. Các hình thức can thiệp phục hồi chức năng
Phục hồi chức năng tâm lý:
– Giáo dục tâm lý cho người bệnh và gia đình giúp người bệnh và gia đình hiểu rõ bản chất triệu chứng âm tính, đồng thời hướng dẫn gia đình có hỗ trợ đúng cách, tránh chỉ trích hoặc làm thay. Đặc biệt là giảm sự kỳ thị và căng thẳng gia đình. Giáo dục tâm lý giúp người bệnh và gia đình tăng tuân thủ điều trị, duy trì phục hồi lâu dài.
– Can thiệp trị liệu nhận thức hành vi hiệu quả cho người bệnh có đặc điểm triệu chứng âm tính, giúp người bệnh thiết lập các mục tiêu nhỏ, cụ thể, củng cố các hành vi tích cực, đông thời khuyến khích người bệnh thay đổi cách nhìn về ban thân và bệnh. Người bệnh tăng khả năng lập kế hoạch, ra quyết định đơn giản. Phục hồi chức năng tâm lý giúp người bệnh giảm thờ ơ cảm xúc, cải thiện động lực và nhận thức.
Phục hồi chức năng sống cơ bản, đây có thể nói là nền tảng cho sự phục hồi.
– Mục tiêu của hoạt động này là khôi phục và duy trì khả năng tự chăm sóc, tự lập tối thiểu. Tăng mức độ hoạt động, chủ động và tham gia, giảm phụ thuộc vào gia đình và nhân viên y tế.
– Phục hồi kỹ năng tự chăm sóc bản thân như rửa mặt, đánh trăng, tắm rửa thay quần áo, ăn ngủ đúng giờ, giữ gìn vệ sinh không gian sống.
– Phục hồi kỹ năng sinh hoạt hàng ngày như sắp xếp đồ dùng cá nhân, dọn dẹp giường ngủ phòng ở, thực hiện lịch sinh hoạt ngày/tuần.
– Phục hồi kỹ năng giao tiếp cơ bản như chào hỏi, trả lời câu hỏi đơn giản, giao tiếp nhu cầu cơ bản, tham gia hoạt động nhóm nhỏ, tạo môi trường an toàn, không áp lực giúp người bệnh chủ động giao tiếp, duy trì sự chú ý trong nhóm.
Người bệnh được KTY hướng dẫn kỹ năng sống cơ bản.
Phục hồi chức năng lao động lao động đơn giản dần đến phức tạp như làm vườn, chăn nuôi, làm nghề thủ công, may vá…
– Phục hồi chức năng lao động là một phương pháp quan trọng giúp người bệnh tâm thần tái khả năng làm việc, học tập hay nói cách khác là khôi phục và duy trì khả năng hoạt động có mục đích, đồng thời nâng cao tự lập và chất lượng cuộc sống.
– Đây là một biện pháp quan trọng nhất trong phục hồi chức năng tâm thần cho người bệnh. Chỉ có khi người bệnh tham gia vào các hoạt động thì mới phát triển kỹ năng và sự tự tin giúp người bệnh thấy mình có ích và suy nghĩ tích cực.
Người bệnh được NVYT hướng dẫn xâu hạt tràng.
Phục hồi chức năng vui chơi giải trí
– Đây là hoạt động vui chơi – giải trí trị liệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người bệnh tâm thần phân liệt có triệu chứng âm tính, bởi đây là nhóm triệu chứng khó điều trị bằng thuốc và anh hưởng trực tiếp đến chức năng sống.
– Liệu pháp này nhằm hướng dẫn người bệnh tham gia hoạt động giải trí như nghe nhạc, học hát, múa, thể thao, hội họa, các hoạt động nghệ thuật khác. Tham gia hoạt động giải trí giúp người bệnh giảm căng thẳng, cải thiện tâm trạng, cải thiện chức năng tư duy, tăng cường các kỹ năng xã hội, kích hoạt cảm xúc và động lực, kích thích hứng thú, niềm vui, muốn tham gia thay vì bị động – thờ ơ.
Người bệnh tâm thần phân liệt có các triệu chứng âm tính tuy ít ồn ào nhưng lại để lại hậu quả chức năng nặng nề và kéo dài, làm suy giảm khả năng học tập, lao động, giao tiếp và hòa nhập xã hội. Điều trị bằng thuốc giúp kiểm soát triệu chứng dương tính, nhưng không đủ để phục hồi chức năng sống nếu thiếu các can thiệp phục hồi chức năng tâm thần.
Người bệnh tham gia vui chơi giải trí đầy hứng thú.
Vì vậy, phục hồi chức năng tâm thần – tâm lý xã hội giữ vai trò the chốt, giúp người bệnh từng bước khơi dậy cảm xúc, tăng động lực, phục hồi kỹ năng, cải thiện nhận thức và tái thiết lập mối quan hệ xã hội. Quá trình này đòi hỏi can thiệp sớm, liên tục, cá thể hóa với sự phối hợp chặt chẽ giữa nhân viên y tế, gia đình và cộng đồng.
Đầu tư cho phục hồi chức năng không chỉ giúp người bệnh sống có ý nghĩa hơn mà còn góp phần giảm gánh nặng lâu dài cho gia đình và xã hội, hướng tới mục tiêu cao nhất của điều trị tâm thần không chỉ ổn định bệnh, mà còn phục hồi con người.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Trần Bình An, Trần Viết Nghị (2001). “Bệnh tâm thần phân liệt”, Bệnh học tâm thần, Đại học Y Hà Nội, trang: 5-12.
- Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Sinh Phúc và cộng sự (2005). “Bệnh học tâm thần”. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, trang: 175-214.
- Tổ chức Y Tế Thế Giới (1992). “Bệnh tâm thần phân liệt”, Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi. Mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán, WHO, Geneva. Bản dịch tiếng Việt, Hà Nội, trang: 52-63.
- La Đức Cương (1999). “Nghiên cứu tiến triển của bệnh Tâm thần phân liệt thểParanoid sau khi can thiệp đặc biệt (điều trị hóa dược với huấn luyện gia đình)”, Luận văn Thạc sĩ Y học trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.
- Bệnh viện tâm thần trung ương 1(2023). Hướng dẫn thực hiện các liệu pháp phục hồi chức năng tâm thần.
- Nguyễn Viết Thiêm (1992). “Đặc điểm lâm sàng, tiến triển của bệnh Tâm thần phân liệt dưới tác động của điều trị hiện nay”, Nội san Tâm thần – Thần kinh – Phẫu thuật thần kinh. Số đặc biệt chào mừng 90 năm Trường Đại học Y Hà Nội, Tổng Hội Y Dược Học Việt Nam, trang: 19-23.
- Sadock B.J., Sadock V.A. (2007). “Kaplan and Sadock’s. Synopsis of psychitry”. Tenth edition. William and Wilkins. p: 468- 497.
- Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Ngân (1996). “Bệnh tâm thần phân liệt”,
- Andreasen N. C, Roy M.A. and Flaum U (1996). “Positive and Negative Symptom”, ed. B.S. Schizophrenia. p: 6-7.
- Nguyễn Thanh Bình (2010). “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả nồng độ Dopamin huyết thanh ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paronoid”. Luận án Tiến sỹ Y học. Học viện Quân Y.
Viết bài: Khoa Phục hồi Chức năng
- Đại hội đại biểu Công đoàn cơ sở Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 lần thứ XXVI, nhiệm kỳ 2023-2028.
- Họp hội đồng thẩm định kinh phí đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ Y tế thuộc chương trình khoa học và công nghệ cấp Bộ Y tế giai đoạn đến 2025.
- Đoàn thể thao Bệnh Viện Tâm Thần Trung ương 1 (BVTTTW1) tham gia Chung kết Hội thao Ngành Y tế …
- Phục hồi chức năng hành trình trở lại cuộc sống của người bệnh tâm thần.
- Mời báo giá: Mua sắm máy tính và thiết bị công nghệ thông tin.
















