Rối loạn tâm thần do rượu là bệnh loạn tâm thần được phát sinh và phát triển có liên quan chặt chẽ đến nghiện rượu. Hình ảnh lâm sàng được biểu hiện ra bên ngoài bằng các rối loạn tâm thần thực tổn và các rối loạn giống loạn tâm thần nội sinh trầm trọng. Các biểu hiện rối loạn tâm thần thường mất đi sau 1- 6 tháng ngừng sử dụng rượu. Theo tổ chức Y tế Thế giới ước tính năm 2016, việc sử dụng ethanol đã gây ra khoảng 3 triệu ca tử vong ( chủ yếu là nam giới ), hay 5,3% tổng số ca tử vong trên toàn thế giới – nhiều hơn cả bệnh lao, HIV/AIDS hoặc đái tháo đường. Nước ta là một trong những quốc gia đứng hàng đầu thế giới về tỷ lệ người sử dụng rượu. Có tới 77,3% nam giới sử dụng rượu bia, đây là con số cao nhất thế giới, gấp gần hai lần mức trung bình.
Ảnh minh họa. Nguồn: alexandrbykadorov.ru
Một người thường xuyên uống rượu, nghiện rượu, lạm dụng rượu sẽ dẫn tới bị suy giảm và rối loạn các chức năng hoạt động của não bộ, dẫn đến suy giảm trí nhớ, suy giảm trí tuệ, rối loạn tư duy, rối loạn cảm xúc và rối loạn hành vi tác phong. Sabia S (2014) cho rằng nghiện rượu mạn tính là nguyên nhân gây suy giảm nhận thức, suy giảm nhận thức do rượu chiếm tỷ lệ cao, chủ yếu suy giảm nhận thức nhẹ như suy giảm trí nhớ. Tác giả cũng cho rằng nghiện rượu thúc đẩy nhanh quá trình lão hóa tại não, thúc đẩy suy giảm nhận thức. Theo Nguyễn Văn Tuấn (2024), tác dụng lâu dài của rượu có thể gây mất nhớ là tình trạng suy giảm trí nhớ trong giai đoạn một người uống nhiều rượu nhưng vẫn tỉnh táo, gây trở ngại cho việc thu nhận và củng cố trí nhớ. Ngoài ra còn gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương như rối loạn chức năng nhận thức, loại rối loạn mất trí nhớ, dai dẳng.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn (2014) về hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở bệnh nhân loạn thần do rượu, suy giảm nhận thức nhẹ, suy giảm trí nhớ gần, suy giảm chú ý của nhóm suy giảm nhận thức nhẹ được cải thiện rõ rệt. Sau sáu tháng điều trị, suy giảm nhận thức nhẹ, suy giảm trí nhớ gần còn 7,6%.6 Ở Việt Nam trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu về rối loạn trí nhớ do rượu. Tỷ lệ rối loạn trí nhớ do rượu, theo một số tác giả trong nước như Nguyễn Tất Định (2017): 75%; Đỗ Xuân Tĩnh và Hà Thị Vân Anh (2022): 100% trong đó suy giảm trí nhớ gần là chủ yếu.
- Khái niệm rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu
Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu đã được cập nhật mới trong ICD-11 là rối loạn do sử dụng rượu. Rối loạn do sử dụng rượu được đặc trưng bởi mô hình và hậu quả của việc sử dụng rượu. Ngoài ngộ độc rượu (Alcohol intoxication), rượu còn có tính chất gây lệ thuộc (dependence-inducing properties), dẫn đến lệ thuộc rượu (Alcohol dependence) ở một số người và hội chứng cai rượu (Alcohol withdrawal) khi việc sử dụng bị giảm hoặc ngừng. Rượu liên quan đến một loạt tác hại rộng, ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan và hệ thống của cơ thể, có thể được phân loại thành một lần sử dụng rượu gây hại (Single episode of harmful use of alcohol) và mô hình sử dụng rượu gây hại (Harmful pattern of use of alcohol). Tác hại đối với người khác do hành vi trong khi ngộ độc rượu được bao gồm trong định nghĩa của sử dụng rượu có hại (Harmful use of alcohol). Một số rối loạn tâm thần do rượu và các dạng suy giảm nhận thức thần kinh liên quan đến rượu cũng được công nhận.
- Tác động của rượu lên tâm thần
Rượu có tác dụng nổi bật trên hầu hết tất cả các hệ thống hóa chất thần kinh, với những tác động ngược lại trong quá trình nhiễm độc so với khi xuất hiện hội chứng cai. Có lẽ tác dụng mạnh nhất là đối với phức hợp axit y-aminobutyric (GABA) trong não, đặc biệt là trên thụ thể GABA-A (GABAA), góp phần vào đặc tính an thần, gây ngủ, chống co giật và giãn cơ của rượu. Ethanol cũng tác động đến các thụ thể ionophoric gated glutamate, đặc biệt là những thụ thể liên kết N-methyl-d-aspartate (NMDA), với tác dụng kích thích bị giảm bớt trong quá trình nhiễm độc và hoạt động tăng cao trong khi có hội chứng cai. Rượu làm tăng mạnh dopamine và các chất chuyển hóa của nó, và uống rượu mạn tính làm thay đổi số lượng và độ nhạy cảm của thụ thể dopamine, với các tác động liên quan đến nhiễm độc và thèm muốn uống rượu, một phần thông qua những thay đổi trong trung tâm khoái cảm ở vùng mái bụng của não. Tiêu thụ đồ uống có cồn cũng làm tăng serotonine trong khớp thân kinh và điều chỉnh các thụ thể serotonine. Mức serotonine trong não thấp hơn có thể liên quan đến phản ứng ít dữ dội hơn với rượu và uống nhiều rượu hơn mỗi lần. Cuối cùng, rượu tăng cường mạnh mẽ hoạt động của hệ thống não liên quan đến opioid và tác động đến các thụ thể adenosine, acetylcholine và cannabinoid 1 (CB1).
- Một số thể lâm sàng của rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu
3.1 Lạm dụng rượu
Một người uống rượu chưa hẳn đã nghiện, nhưng vẫn có thể làm hại đến sức khoẻ của họ. Vậy là uống rượu để vô tình hay chỉ là để tuân thủ tập tục gây hại cho sức khoẻ của mình, những trường hợp như thế được coi là lạm dụng.
Theo Hội Tâm thần học Mỹ (1994), lạm dụng rượu phải thỏa mãn một số tiêu chuẩn sau:
- Hình thức sử dụng rượu không thích hợp gây ra một số biến đổi về chức năng hoặc một số chịu đựng có ý nghĩa lâm sàng đặc trưng bằng sự có mặt của ít nhất một trong những biểu hiện sau, xảy ra trong vòng 1 năm trở lại đây:
+ Sử dụng nhắc lại rượu dẫn đến mất khả năng thực hiện những nhiệm vụ quan trọng trong lao động, học tập và ở gia đình.
+ Sử dụng nhắc lại rượu trong các tình huống có thể nguy hiểm về thể chất (bệnh tim mạch, loét dạ dày – tá tràng, bệnh viêm gan, xơ gan, lái xe hoặc lao động với các loại máy móc khi uống rượu).
+ Lặp lại những vấn đề về pháp luật liên quan đến sử dụng rượu (ví dụ bị bắt giữ vì có hành vi không bình thường khi uống rượu).
+ Sử dụng rượu mặc dù biết có những vấn đề dai dẳng hoặc tái diễn giữa cá nhân hoặc xã hội xảy ra kịch phát lên do tác động của rượu (mâu thuẫn gia đình, cơ quan, xã hội) bùng phát lên do rượu.
– Không có biểu hiện của sự phụ thuộc rượu.
3.2 Nghiện rượu
Nghiện rượu đã được nghiên cứu từ giữa thế kỷ thứ XIX, và cho tới nay vẫn là vấn đề thời sự vì số người nghiện rượu ngày càng gia tăng. Nghiện rượu là một bệnh lý nghiện chất, có các triệu chứng cơ bản đặc trưng cho nhóm bệnh này.
Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu theo ICD 10: Có ít nhất 3/6 tiêu chuẩn sau trở lên, diễn ra vào bất kỳ thời điểm nào trong vòng 12 tháng qua:
– Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng rượu.
– Khó khăn trong việc kiểm soát hành vi sử dụng rượu về mặt thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng.
– Ngừng hoặc giảm đáng kể lượng rượu đang sử dụng sẽ gây ra hội chứng cai.
– Có bằng chứng rõ rệt về sự dung nạp rượu (buộc phải tăng liều).
– Dần dần xao nhãng các thú vui hoặc những thích thú trước đây.
– Tiếp tục sử dụng rượu mặc dù có bằng chứng rõ ràng về tác hại do sử dụng rượu gây ra.
3.3 Hội chứng quên do rượu ( F10.6)
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng quên do rượu theo ICD 10:10
A.Tổn thương trí nhớ được biểu hiện bằng cả hai:
(1). Thiếu sót trí nhớ gần (tổn thương khả năng học kiến thức mới) đến một mức đủ để ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày.
(2). Giảm khả năng nhơ lại các trải nghiệm trong quá khứ.
B. Vắng mặt tất cả các triệu chứng sau ( hoặc gần hết):
(1). Thiếu sót trí nhớ tức thì (khi kiểm tra bằng dãy các con số).
(2). Ý thức u ám hoặc rối loạn sự chú ý.
(3). Suy giảm trí tuệ chung (mất trí)
C. Không có bằng chứng khách quan qua thăm khám cơ thể và thần kinh, các xét nghiệm, hoặc tiền sử về một rối loạn hoặc một bệnh não, ngoài những điều liên quan đến việc sử dụng rượu, để có thể được thừa nhận một cách hợp lý là nguyên nhân gây ra các biểu hiện lâm sàng đã được mô tả ở tiêu chuẩn A.
3.4 Loạn thần do rượu
Loạn thần do rượu là trạng thái loạn thần liên quan chặt chẽ tới quá trình sử dụng rượu, biểu hiện bằng rối loạn cảm xúc, hành vi, hoang tưởng, ảo giác… Các biểu hiện rối loạn tâm thần thường mất đi sau 1-6 tháng ngừng sử dụng rượu.
Về lâm sàng loạn thần do rượu có thể chia ra: Sảng rượu, ảo giác do rượu, hoang tưởng do rượu, hội chứng Korsakov do rượu, bệnh não do rượu,…
+ Sảng rượu là một trạng thái loạn thần cấp tính và trầm trọng, thường xuất hiện ở người nghiện rượu mạn tính, khi cơ thể bị suy yếu hay vì một bệnh lý nào đó. Sảng rượu cũng có thể xuất hiện sau khi cai rượu tương đối, tuyệt đối hoặc sau khi sử dụng số lượng lớn.2 Biểu hiện của sảng rượu là
Giai đoạn khởi phát:
Sảng rượu có thể khởi phát cấp tính hay từ từ. Trong giai đoạn này, biểu hiện chủ yếu là mệt mỏi, chán ăn, rối loạn giấc ngủ, ác mộng, rối loạn thần kinh thực vật. Biến đổi cảm xúc biểu hiện bằng hoảng hốt, lo âu. Bệnh tiến triển nặng dần, nhất là về chiều tối, có thể có ảo tưởng thị giác,…
Giai đoạn toàn phát:
Tam chứng cổ điển bao gồm: ý thức mê sảng và lú lẫn, các ảo tưởng và ảo giác sinh động và triệu chứng run nặng. Ngoài ra cũng thường có hoang tưởng, kích động, mất ngủ hoặc đảo lộn nhịp thức ngủ và hoạt động thần kinh tự trị gia tăng.
Rối loạn năng lực định hướng thời gian và không gian, định hướng xung quanh có thể bị lệch lạc, còn giữ được định hướng bản thân. Người bệnh nhận thức xung quanh như là ảo ảnh, hoàn toàn mất khả năng phê phán. Rối loạn ý thức thường tăng về chiều tối.
+ Ảo giác do rượu là hình thái lâm sàng thường gặp sau sảng rượu, chiếm 5,6- 22,5% các loạn thần có liên quan đến nghiện rượu mạn tính. Ảo giác thường xuất hiện sau 10 năm uống rượu. Tiến triển của ảo giác có thể cấp, kéo dài và có thể ảo giác mãn tính. Ảo giác thường là những ảo giác thật, có thể có nhiều ảo giác trên một bệnh nhân, có thể là ảo thanh, ảo thị, ảo giác xúc giác, ảo khứu… Ảo thanh là hay gặp nhất. Ảo thanh có thể là thô sơ hay lời nói. Ảo thị cũng thường gặp. Nội dung của ảo thị thường phù hợp với nội dung của ảo thanh và hoang tưởng. Ảo xúc ít gặp hơn ảo thanh và ảo thị, thường xuất hiện cùng với ảo thị, bệnh nhân thấy những côn trùng bò trên da thịt, chuột gặm nhấm chân tay mình gây cảm giác khó chịu. Ảo khứu và ảo vị chỉ gặp ở 9% bệnh nhân loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế. Nguyễn Văn Tuấn (2006) thấy ở bệnh nhân loạn thần do rượu ảo giác chiếm 89,3%; trong đó ảo thị là 64%, ảo thanh là 32%.17 Theo Đặng Thị Xuân, Đỗ Ngọc Sơn (2021) các rối loạn ảo giác: thính giác 92,1%, thị giác 89,5%, xúc giác 23,7%.
+ Hoang tưởng do rượu thường gặp sau sảng rượu và ảo giác do rượu, chiếm 1% loạn thần do rượu. Về lâm sàng có paranoid do rượu và paranoia do rượu ( hay gặp nhất là hoang tưởng ghen tuông). Hoang tưởng ghen tuông gặp ở 40% bệnh nhân loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế. Có thể có nhiều hoang tưởng và được nhắc đến nhiều là hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng bị hại và các hoang tưởng cảm thụ. Ngoài ra, bệnh nhân loạn thần do rượu còn có một số hoang tưởng khác như hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng tự cao, hoang tưởng nghi bệnh… với tỷ lệ thấp. Theo Nguyễn Văn Tuấn (2014) Loạn thần do rượu hoang tưởng chiếm ưu thế chiếm tỷ lệ chủ yếu 82,0%, trong đó Hoang tưởng bị hại 72,7%, hoang tưởng bị theo dõi 48,5%, hoang tưởng ghen tuông chiếm tỷ lệ 42,4%.
+ Cảm xúc và hành vi: Hoang tưởng và ảo giác do rượu thường chi phối mạnh mẽ cảm xúc và hành vi của bệnh nhân. Bệnh nhân lo âu, sợ hãi và căng thẳng cao độ, đôi lúc khoái cảm. Hành vi thường né tránh, chạy trốn hoặc phản ứng tấn công người xung quanh. Trong những trường hợp mạn tính, cảm xúc của bệnh nhân thường bị ức chế, đôi khi trở nên cau có, giận dữ. Hành vi có khi thẫn thờ hoặc sững sờ, cảm giác không có lối thoát nhưng cũng có khi trở nên độc ác, thô bạo với người thân.
- Ảnh hưởng của rượu đối với chức năng trí nhớ
Rượu tác động trực tiếp lên não bộ thông qua cơ chế hệ thần kinh trung ương. Việc sử dụng rượu kéo dài gây tổn thương tế bào thần kinh, đặc biệt tại vùng hồi hải mã(hippocampus) khu vực giữ vai trò quan trọng trong quá trình ghi nhớ và học tập.
Ở người nghiện rượu lâu năm, chức năng trí nhớ thường bị ảnh hưởng theo nhiều mức độ khác nhau:
– Giam trí nhớ ngắn hạn
– Khó tiếp nhận và lưu giữ thông tin mới
– Giảm khả năng tập trung chú ý
– Quên các sự kiện gần đây
– Giảm khả năng hồi tưởng
– Chậm xử lý thông tin
– Giảm khả năng lập kế hoạch và giải quyết vấn đề
Trong một số trường hợp nặng, người bệnh có thể xuất hiện hội chứng Korsakoff – một dạng rối loạn trí nhớ nghiêm trọng liên quan đến thiếu hụt B1 do nghiện rượu kéo dài. Người bệnh thường quên các sự kiện mới xảy ra, bịa chuyện để lấp khoảng trống trí nhớ và mất định hướng thời gian, không gian.
- Đặc điểm trí nhớ ở người bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu
5.1 Đặc điểm chung về trí nhớ
- Khái niệm trí nhớ:
Theo Trần Đình Xiêm thì trí nhớ là chức phận và đặc tính của não có khả năng ghi nhận, bảo tồn và cho hiện lại những kinh nghiệm và tri thức cũ dưới dạng hiện tượng, ý niệm và ý tưởng. Theo Nguyễn Văn Nhận thì trí nhớ là một quá trình tâm lý, phản ánh những sự vật, hiện tượng đã từng tác động vào con người. Thực chất của trí nhớ là sự ghi lại, giữ lại và làm xuất hiện lại những gì cá nhân thu được trong hoạt động sống.
A. Các quá trình cơ bản của trí nhớ
Quá trình trí nhớ bao gồm các quá trình thành phần: ghi nhớ, giữ gìn, tái hiện và quên.
- Ghi nhớ: thường thường người ta chia ghi nhớ của con người thành 2 loại:
+ Ghi nhớ không chủ định là không định trước cho mình nhiệm vụ ghi nhớ. Đây là loại ghi nhớ không cần phải có biện pháp gì. Ưu điểm của loại ghi nhớ này là nhớ nhanh, nhớ lâu, tốn ít sức lực và thời gian. Tuy nhiên trong đời sống tâm lí của con người, hình thức ghi nhớ chủ yếu là có chủ định.
+ Ghi nhớ có chủ định là loại ghi nhớ đặt trước cho mình mục đích ghi nhớ. Trong dạng ghi nhớ này, con người cần có nỗ lực ý chí và phải sử dụng những thủ thuật, phương tiện ghi nhớ nhất định. Ghi nhớ có chủ định được thực hiện bằng hai thủ thuật:
◦ Ghi nhớ máy móc: là loại ghi nhớ dựa vào sự liên hệ bề ngoài như trật tự phát âm, liên tưởng… mà không cần đi sâu vào nội dung tài liệu. Những liên hệ bề ngoài này mang tính tạm thời và ít bền vững.
◦ Ghi nhớ ý nghĩa: là loại ghi nhớ dựa vào sự hiểu biết nội dung, mối quan hệ logic bên trong của sự vật, hiện tượng. Do cần phải hiểu nên ghi nhớ ý nghĩa tốn nhiều thời gian hơn. Ngược lại, tài liệu được ghi nhớ tốt hơn, khối lượng nhiều hơn và thời gian bền hơn.
– Giữ gìn: là quá trình củng cố vững chắc những dấu vết đã được hình thành trên vỏ não ghi nhớ. Người ta chia ra làm 2 loại giữ gìn: tiêu cực và tích cực. Nếu như ta lặp đi lặp lại nhiều lần tri giác tài liệu thì ta có giữ gìn tiêu cực. Còn ra chủ động tái hiện tài liệu đã ghi nhớ thì đó là giữ gìn tích cực.
– Nhận lại và nhớ lại:
+ Nhận lại: là nhận ra đối tượng khi đối tượng được tri giác lại. Nhận lại có thể nhanh chóng và chính xác nếu hình ảnh cũ được giữ gìn một cách vững chắc và hình ảnh mới trùng hợp với hình ảnh cũ. Trong nhiều trường hợp, do thời gian hoặc yếu tố khác, hình ảnh mới đã thay đổi nhiều so với hình ảnh cũ. Do vậy chúng ta không thể nhận lại được. Cũng có trường hợp, do có một số nét giống nhau giữa một biểu tượng cũ và biểu tượng mới, chủ thể đã nhận nhầm. Quen quen hoặc hao hao hay hình như… là những từ thường được dùng khi chủ thể còn nghi ngờ tính chuẩn xác của nhớ lại. Chính vì lẽ đó, nhận lại không phải là tiêu chuẩn đáng tin cậy về độ chính xác của trí nhớ.
+ Nhớ lại: làm hiện lại trong óc hình ảnh của đối tượng đã được tri giác trước đây khi đối tượng không còn ở trước mặt ta. Nhớ lại mang tính chất cá nhân rõ nét; cùng một tài liệu được quan sát nhưng mỗi người nhớ lại một cách khác nhau cùng một bài hoc, một bộ phim, một sự kiện nhưng nội dung của những người nhớ lại lại không hoàn toàn giống nhau. Sự khác nhau này là do kinh nghiệm, hiểu biết, tình cảm, hứng thú… không giống nhau.
B. Phân loại trí nhớ
Một số cách phân loại trí nhớ như sau:
– Theo thời gian: trí nhớ tức thì hay trí nhớ ngắn hạn, trí nhớ gần, trí nhớ xa hay trí nhớ dài hạn, trí nhớ hiện hành,…
+ Trí nhớ tức thì hay trí nhớ ngắn hạn: là trí nhớ ngay sau giai đoạn ghi nhớ. Những tài liệu dường như chưa chìm vào vô thức mặc dù không còn trên ý thức.
+ Trí nhớ dài hạn: là trí nhớ sau giai đoạn ghi nhớ một thời gian dài. Nó rất quan trọng để con người tích luỹ tri thức.
– Theo mục đích: trí nhớ không chủ định và trí nhớ có chủ định.
+ Trí nhớ không chủ định: là loại trí nhớ không có mục đích chuyên biệt ghi nhớ, giữ gìn và tái hiện tài liệu. Trong đời sống, loại trí nhớ này xuất hiện đầu tiên.
+ Trí nhớ có chủ định: hay còn gọi là trí nhớ học tập là trí nhớ có mục đích ghi nhớ, giữ gìn và tái hiện. Con người thường dùng các thủ pháp, kĩ thuật để ghi nhớ. Đóng vai trò to lớn trong quá trình tiếp thu tri thức của con người.
– Theo biểu tượng: trí nhớ vận động, trí nhớ cảm xúc, trí nhớ biểu tượng, trí nhớ từ ngữ- logic.
+ Trí nhớ vận động: là trí nhớ những quá trình ít nhiều mang tính tổ hợp. Loại trí nhớ này đặc biệt quan trọng để hình thành kĩ xảo trong lao động chân tay. Vận tốc hình thành và độ bền của kĩ xảo được dùng làm tiêu chí để đánh giá trí nhớ vận động.
+ Trí nhớ cảm xúc: là trí nhớ về những cảm xúc, tình cảm đã diễn ra trước đây. Cảm xúc luôn liên quan đến việc thoả mãn nhu cầu, đến việc chúng ta thực hiện các mối quan hệ với thế giới xung quanh. Trong nhiều trường hợp trí nhớ cảm xúc còn mạnh mẽ và bền vững hơn những loại trí nhớ khác.
+ Trí nhớ biểu tượng: là trí nhớ đối với biểu tượng dạng như một ấn tượng, một hình ảnh cuộc sống cũng như âm thanh, mùi vị,… Trí nhớ biểu tượng có thể được gọi theo giác quan như: thị giác, thính giác, xúc giác,… Trong chừng mực nhất định các loại trí nhớ này có sự ảnh hưởng của nghề nghiệp. Ngoài ra, chúng còn đặc biệt phát triển ở những người có khuyết tật giác quan, ví dụ như người khiếm thị hay khiếm thính.
+ Trí nhớ từ ngữ- logic: nội dụng của trí nhớ từ ngữ- logic chính là những ý nghĩ của chúng ta. Tuy nhiên những ý nghĩ luôn tồn tại trong từ ngữ. Do vậy không đơn thuần là nhớ logic mà là từ ngữ- logic. Khi tái hiện và truyền đạt cho người khác, chúng ta có thể thông báo những ý chính hoặc đầy đủ cả từ ngữ.
– Theo phương tiện: Trí nhớ trực tiếp và trí nhớ gián tiếp.
+ Trí nhớ trực tiếp: la loại trí nhớ mà khi ghi nhớ, con người không sử dụng phương tiện nào.
+ Trí nhớ gián tiếp: là trí nhớ phải sử dụng các phương tiện để ghi nhớ. Đây là loại trí nhớ chủ yếu của con người.
– Theo thông tin: trí nhớ lời nói, trí nhớ hình ảnh, trí nhớ số,…
Tuy nhiên sự phân loại trí nhớ chỉ có ý nghĩa tương đối trong lâm sàng
- Đặc điểm trí nhớ ở người bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu
Từ lâu, người ta đã công nhận rằng việc sử dụng rượu mãn tính có tác động có hại đến não, dẫn đến tổn thương não liên quan đến rượu. Những người bị tổn thương não liên quan đến rượu biểu hiện suy giảm đáng kể về trí nhớ.
6.1. Suy giảm trí nhớ ngắn hạn
Đây là biểu hiện phổ biến nhất. Người bệnh gặp khó khăn trong việc ghi nhớ các thông tin vừa tiếp n hận như cuộc trò chuyện, hướng dẫn điều trị hoặc các hoạt động mới được giao. Người bệnh dễ quên ngay sau vài phút hoặc vài giờ.
6.2. Giảm khả năng học tập và tiếp thu
Lạm dụng rượu mãn tính làm tăng tốc quá trình lão hóa não và góp phần gây ra suy giảm nhận thức, bao gồm cả những suy giảm trong lĩnh vực trí nhớ, người bệnh khó tiếp nhận kiến thức mới. Tuy nhiên, sự đồng thuận giữa các nghiên cứu từ nhiều chuyên ngành là lạm dụng rượu có thể làm tăng nguy cơ mắc chứng mất trí.
Nghiên cứu của Rosemary Fama và cộng sự (2021) thấy rằng có tình trạng suy giảm trí nhớ theo giai đoạn về lời nói và hình ảnh ở những người mắc AUD (rối loạn sử dụng rượu) so với những người đối chứng khoẻ mạnh.28 Diez và cộng sự (2024) cũng thấy rằng những bệnh nhân AUD có biểu hiện suy giảm đáng kể về khả năng học tập và trí nhớ từ ngữ khi so sánh với người khoẻ mạnh.
Theo Nandrino và cộng sự (2017) thấy rằng việc sử dụng rượu mạn tính làm suy giản khả năng xây dựng trí nhớ tự truyện (là trí nhớ về những trải nghiệm cá nhân và sự kiện bản thân).30 Xavier Noel và cộng sự (2012) cũng cho rằng những người nghiện rượu thường biểu hiện suy giảm hiệu suất trong các nhiệm vụ ghi nhớ tình tiết. Sau khi cai nghiện, bệnh nhân nghiện rượu biểu hiện tình trạng suy giảm trí nhớ từng đợt.
6.3. Rối loạn chú ý và tập trung
Khả năng chú ý suy giảm làm cho qúa trình ghi nhớ trở nên kém hiệu quả. Người bệnh thường dễ mất tập trung, giảm khả năng theo dõi cuộc trò chuyện hoặc thực hiện công việc kéo dài
6.4. Giảm trí nhớ làm việc
Người bệnh khó xử lý và lưu giữ thông tin tạm thời để phục vụ hoạt động hiện tại, dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, tính toán hoặc giải quyết vấn đề hàng ngày.
6.5. Suy giảm trí nhớ cảm xúc và xã hội
Một số người bệnh giảm khả năng nhận biết cảm xúc, khó ghi nhớ các tình huống giao tiếp xã hội, từ đó ảnh hưởng đến các mối quan hệ gia đình và cộng đồng.
- Hậu quả của suy giảm trí nhớ
Suy giảm trí nhớ ở người bệnh do sử dụng rượu không chỉ ảnh hưởng đến chức năng nhận thức mà còn gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng:
– Giảm hiệu quả điều trị do quên uống thuốc hoặc không tuân thủ hướng dẫn.
– Giảm khả năng lao động và tự chăm sóc bản thân.
– Gia tăng nguy cơ tái nghiện rượu.
– Ảnh hưởng đến các mối quan hệ gia đình và xã hội.
– Tăng gánh nặng chăm sóc cho người thân.
– Giảm chất lượng cuộc sống và khả năng tái hòa nhập cộng đồng.
- Phục hồi chức năng trí nhớ cho người bệnh
Phục hồi chức năng cho người bệnh có rối loạn tâm thần do sử dụng rượu cần được thực hiện toàn diện, liên tục và phối hợp đa chuyên ngành.
Điều trị cai rượu và duy trì không sử dụng rượu
Ngừng sử dụng rượu là yếu tố quan trọng nhất giúp hạn chế tiến triển tổn thương não bộ và tạo điều kiện phục hồi chức năng nhận thức.
Phục hồi chức năng nhận thức
Các bài tập luyện trí nhớ giúp kích thích hoạt động não bộ và cải thiện khả năng ghi nhớ:
– Nhắc lại thông tin theo chuỗi.
– Ghi nhớ hình ảnh, con số, từ khóa.
– Trò chơi nhận thức.
– Sắp xếp công việc theo trình tự.
– Bài tập chú ý và tập trung.
Liệu pháp tâm lý
Liệu pháp hỗ trợ, liệu pháp nhận thức – hành vi và tư vấn động cơ giúp người bệnh tăng nhận thức về bệnh, kiểm soát cảm xúc và nâng cao khả năng thích nghi xã hội.
Hoạt động trị liệu
Các hoạt động lao động trị liệu, làm vườn, thủ công, thể dục và sinh hoạt nhóm giúp kích thích trí nhớ, tăng khả năng tập trung và cải thiện giao tiếp xã hội.
Hỗ trợ gia đình và cộng đồng
Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát điều trị, động viên tinh thần và hỗ trợ người bệnh duy trì lối sống lành mạnh, tránh tái sử dụng rượu.
- Định hướng can thiệp trong thực hành lâm sàng
Trong quá trình chăm sóc và phục hồi chức năng, cán bộ y tế cần:
– Đánh giá toàn diện chức năng nhận thức và trí nhớ.
– Xây dựng kế hoạch phục hồi cá thể hóa.
– Kết hợp điều trị thuốc và can thiệp tâm lý.
– Tăng cường các hoạt động phục hồi chức năng nhận thức.
– Hướng dẫn kỹ năng sống và tái thích nghi xã hội.
– Theo dõi nguy cơ tái nghiện và tái phát triệu chứng tâm thần.
Việc can thiệp sớm và liên tục có thể giúp người bệnh cải thiện đáng kể khả năng ghi nhớ, tăng tính độc lập và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Rối loạn trí nhớ là một biểu hiện thường gặp ở người bệnh có rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu. Tình trạng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng học tập, lao động, giao tiếp xã hội và hiệu quả điều trị. Phục hồi chức năng nhận thức, đặc biệt là phục hồi trí nhớ, giữ vai trò quan trọng trong quá trình điều trị toàn diện cho người bệnh.
Sự phối hợp giữa điều trị y khoa, liệu pháp tâm lý, hoạt động trị liệu và hỗ trợ gia đình sẽ góp phần giúp người bệnh cải thiện chức năng nhận thức, giảm nguy cơ tái nghiện và từng bước tái hòa nhập cộng đồng một cách bền vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Y tế (2020), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số rối loạn tâm thần thường gặp.
- World Health Organization (WHO) (2018), Global Status Report on Alcohol and Health.
- Nguyễn Văn Tuấn. Rối loạn sử dụng rượu. In: Bệnh học sử dụng chất(Dùng cho học viên sau đại học). Nhà xuất bản Y học. 2024: 53 – 76
- Nguyễn Văn Tuấn “Nghiên cứu lâm sàng và hiệu quả điều trị suy giảm nhận thức ở người bệnh lạn thần do rượu, Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại học y Hà Nội 2014.
- Nguyễn Việt (2019), Tâm thần học đại cương, Nhà xuất bản Y học.
- American Psychiatric Association (APA) (2022), Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders – DSM-5-TR.
Viết bài: Khoa Phục hồi Chức năng
- Đại hội đại biểu Công đoàn cơ sở Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 lần thứ XXVI, nhiệm kỳ 2023-2028.
- Hưởng ứng ngày vệ sinh tay Thế giới “Vệ sinh tay đúng cách – An toàn cho bạn, an toàn cho tôi”.
- Mời báo giá: Thùng rác y tế đạp chân 30 lít in logo phân loại rác thải dùng cho các khoa, phòng tháng 12/2025.
- Dược lý học tâm thần TS.BS Vũ Thy Cầm
- Mời báo giá: Vật tư tiêu hao, công cụ dụng cụ dùng cho người bệnh và nhân viên y tế
- Hỗ trợ chuyên môn tại tỉnh Hà Giang.













