Thứ ba, 12/12/2017

 

Trang chủ

Liên hệ

Góp ý

Tìm kiếm

Liên kết Website

Bài được xem nhiều nhất

Lịch sử hình thành...

Nhận biết các dấu hiệu cảnh báo sớm của các bệnh lý tâm thần....

CÁC DỊCH VỤ - KỸ THUẬT KHÁM, CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN...

Chức năng nhiệm vụ của Bệnh viện....

BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT (Schizophrenia)...

Quảng cáo

Mời quảng cáo trên Website

 
 

Thứ năm, 07/12/2017 - 09:12" GMT+7


Page for print!    Send to friend ->

Khảo sát tình hình bệnh nhân trầm cảm được điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I năm 2016
 

Survey the situation of depressed patients receiving treatment boarding at Central Mental Hospital I in 2016.
                       Tác giả: TS. Tô Thanh Phương

Tóm tắt: Mục tiêu Nhận xét cơ cấu các rối loạn trầm cảm và tìm hiểu yếu tố thuận lợi phát sinh các rối loạn trầm cảm. Đối tượng và phương pháp tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 154 bệnh nhân được điều trị tại Bệnh viện tâm thần trung ương 1 năm 2016. Kết quả Giai đoạn trầm cảm có88 bệnh nhân chiếm 57,14% , trầm cảm tái diễn có 49 bệnh nhân chiếm 31,82% và rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm có 17 bệnh nhân chiếm 11,39%. Trong đó trầm cảm nhẹ chiếm 7,14%, trầm cảm vừa (33,77%), trầm cảm nặng không loạn thần(28,57%) và trầm cảm nặng có loạn thần (30,52%). Nhóm tuổi 16-25 và đã kết hôn chiếm tỷ lệ cao nhất là 38,31% và 55,19. Nông dân mắc bệnh trầm cảm chiếm tỷ lệ cao nhất (54,55 %). Tính hay lo lắng trong cuộc sống chiếm tỷ lệ cao 35,71%. Tính kín đáo, ít thổ lộ san sẻ chiếm 15,58%. Kết luận cơ cấu bệnh nhân trầm cảm vào viện và một số yếu tố thuận lợi trong nghiên cứu này giúp cho việc quản lý, phòng bệnh tốt hơn nhằm làm giảm nguy cơ phát bệnh và tái phát trầm cảm.

Từ khóa: Trầm cảm, điều trị nội trú, bệnh viện tâm thần trung ương 1

Summary: Objective To review the structure of depressive disorders and to explore the factors that contribute to the development of depressive disorders. Object and method of prospective, cross-sectional descriptive analysis of 154 patients treated at Central Mental Hospital 1 in 2016. Results Depression stage was 88 patients accounted for 57.14%, recurrent depression had 49 patients accounted for 31.82%, bipolar disorder at present, depressed patients have 17 patients, accounting for 11.39%. Of which mild depression accounted for 7.14%, moderate depression (33.77%), severe depression not psychotropic (28.57%) and severe depression with psychosis (30.52%). The 16-25 year olds and married couples accounted for the highest proportion of 38.31% and 55.19. Farmers with depression account for the highest proportion (54.55%). The anxiety in life is high 35.71%. Discreet, less disclosed share accounted for 15.58%. ConclusionThe structure of depressed patients admitted to the hospital and some of the favorable factors in this study helped to better prevent and manage the disease in order to reduce the risk of developing the disease and relapse of depression.

Keywords: depression, inpatient treatment, central psychiatric hospital 1

1. Đặt vấn đề:Rối loạn trầm cảm là một trạng thái bệnh lý hay gặp trong thực hành tâm thần cũng như trong thực hành đa khoa. Rối loạn trầm cảm có xu hướng gia tăng và chiếm khoảng 20-30% dân số, trong đó trầm cảm điển hình chiếm 4,4% ( Mỹ ), 5,2% ( Italie ), 5,3% ( Nouvelle-Zélande ), 3,4% ( Séoul ), 3,4% ( nam) và 6% ( nữ ) ( Pháp), Việt nam ( 2,85%) [1]. Hàng năm trên thế giới có tới hàng trăm triệu người được phát hiện là trầm cảm. Bệnh thường gặp ở tuổi từ 18 đến 44, tuổi khởi phát trung bình là 25,6, nữ bị rối loạn trầm cảm cao gấp 3 lần nam (ECA-Epidemiologic Catchment Area). Khoảng 45-70% những người tựsát mắc bệnh trầm cảm và 15% bệnh nhân trầm cảm chết do tự sát [5]. Rối loạn trầm cảm có tỷ lệ tái phát cao.

Rối loạn trầm cảm do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhiều tác giả cho là có sự biến đổi của các chất trung gian hoá học trong hệ thống thần kinh trung ương như sérotonine, noradrenaline và dopamine. Các thay đổi nồng độ một số hormon thyroxin, corticoid, một số chất điện giải, hoặc một số thành phần miễn dịch đều có thể gây ra trầm cảm. Trong những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về yếu tố di truyền của bệnh rối loạn trầm cảm, và người ta thấy có sự liên quan giữa trầm cảm với nhiễm sắc thể X[4], và một số nghiên cứu cũng cho thấy có những biến đổi 3 vùng là hồi hải mã, hạnh nhân và vỏ não ở những BN trầm cảmđiển hình.

Trầm cảm để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội về sức lao động cũng như về kinh tế. Theo nghiên cứu của Tổ chức y tế thế giới ( OMS -1996), Nakajima H, hơn 1,5 tỷ người có những biểu hiện về rối loạn tâm thần trong đó có khoảng 340 triệu người bị rối loạn trầm cảm, trầm cảm sẽ là nguyên nhân gây mất khả năng lao động đứng hàng thứ hai vào năm 2020. Kinh phí chi cho trầm cảm rất lớn, ở Mỹ chi cho trầm cảm (1991) là 45 tỷ đôla, Tim mạch là 120 tỷ đôla [3]. Không những thế nhiều bệnh nhân trầm cảm đã tìm đến cái chết để giải thoát mọi khổ cực và bi quan về cuộc đời do bệnh gây ra. Do vậy nhiều nước đã đưa chương trình phòng và chống bệnh trầm cảm vào chương trình quốc gia trong đó có Việt nam. Bệnh trầm cảm cũng đã được phân loại một cách chi tiết trong Bảng phân loại bệnh Quốc tế năm 1992(ICD.10 mục F32 và F33 ), từ các bệnh trầm cảm điển hình nhất đến các bệnh trầm cảm không điển hình, bị che đậy bởi các bệnh thực thể cũng như các giai đoạn tái diễn của trầm cảm. Hiện nay, tại bệnh viện TTTW I chưa có thống kê nào về tình hình bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :

Khảo sát tình hình bệnh nhân trầm cảm được

điều trị tại Bệnh viện tâm thần trung ương I năm 2016

Nhằm các mục tiêu sau:

- Nhận xét cơ cấu các rối loạn trầm cảm được điều trị nội trú tại bệnh viện TTTWI.

- Tìm hiểu một số yếu tố thuận lợi phát sinh trầm cảm .

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu: Gồm 154 bệnh nhân ( BN) được chẩn đoán trầm cảm thuộc các mục F31.3 đến F31.6; F32 và F 33. Bệnh nhân nghiên cứu được điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện Tâm thần Trung ương I năm 2016.

2.2 Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, phân tích từng trường hợp theo yêu cầu của mục tiêu nghiên cứu.

2.3 Công cụ nghiên cứu: Thang đánh giá trầm cảm Beck( Beck Depression Inventory- B.D.I ): Mẫu có 21 mục lớn được đánh số từ 1-21. Mỗi mục lớn lại có 4 mục nhỏ mô tả cụ thể từng trạng thái cảm xúc thứ tự từ a đến f, và tương ứng với 4 mức độ được tính điểm từ 0-3 điểm, trong 4 mục nhỏ này có 2 mục được cho điểm bằng nhau. Tổng điểm = 63.

Bệnh nhân đọc lần lượt từng câu hỏi và tự đánh dấu câu nào phù hợp với trạng thái của mình. Mỗi BN có một phiếu riêng. Thời gian thực hiện trong 10-15 phút.

Đánh giá kết quả: Cộng điểm cao nhất của từng câu hỏi

Từ0 đến < 14 điểm : Không có trầm cảm.

Từ20 đến 29 điểm: Trầm cảm vừa.

Từ 14 đến19 điểm: Trầm cảm nhẹ.

Từ³ 30: Trầm cảm nặng

2.4 Xử lý số liệu: Các số liệu được xử lý theo chương trình Epiinfo 6.0

3. Kết quả

3.1 Cơ cấu các rối loạn trầm cảm

Bảng 3.1 Các mức độ rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân nghiên cứu

 

STT

                               Bệnh nhân

 

Mức độ trầm cảm

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

 

P

1

Trầm cảm nhẹ

11

7,14

P1-4 < 0,001

2

Trầm cảm vừa

52

33,77

P1-2 < 0,001

3

Trầm cảm nặng không có loạn thần

44

28,57

P2-3 > 0,05

4

Trầm cảm nặng có loạn thần

47

30,52

P3-4 >0,05

Tổng số

154

100,00

100,00

Nhận xét: Trầm cảm nặng có loạn thần chiếm tỷ lệ cao nhất ( 30,52%). Thấp nhất là trầm cảm nhẹ chỉ chiếm 7,14%. So sánh 2 nhóm đối tượng này thì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 3.2 Các loại trầm cảm ở bệnh nhân nghiên cứu

 

STT

          Bệnh nhân

 

 

Loại trầm cảm

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

 

P

1

Giai đoạn trầm cảm

88

57,14

P1-3 < 0,001

2

Trầm cảm tái diễn

49

31,82

P1-2 > 0,05

3

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại gia đoạn trầm cảm

17

11,39

P2-3 < 0,05

Tổng số

154

100,0

 

Nhận xét: Nhóm BN giai đoạn trầm cảm chiếm tỷ lệ cao nhất ( 57,14%), thấp nhất là nhóm BN rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm (11,36%). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 3.3  Cơ cấu các loại trầm cảm ở bệnh nhân nghiên cứu được chẩn đoán theo ICD-10 

STT

                    Bệnh nhân nghiên cứu

 

Cơ cấu các loại trầm cảm

Số lượng

Tỷ lệ

1

Giai đoạn trầm cảm nhẹ

8

5,19

2

Giai đoạn trầm cảm vừa

31

20,13

3

Giai đoạn trầm cảm nặng không loạn thần

23

14,94

4

Giai đoạn trầm cảm nặng có loạn thần

26

16,89

5

Trầm cảm tái diễn nhẹ

3

1,95

6

Trầm cảm tái diễn cảm vừa

11

7,14

7

Trầm cảm tái diễn cảm nặng không loạn thần

19

12,34

8

Trầm cảm tái diễn cảm nặng có loạn thần

16

10,39

9

RLCXLC hiện tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa

10

6,49

10

RLCXLC hiện tại trầm cảm nặng không loạn thần

2

0,13

11

RLCXLC hiện tại trầm cảm nặng có loạn thần

5

0,35

 

Tổng số

154

100,0

Nhận xét: Nhóm BN giai đoạn trầm cảm vừa chiếm tỷ lệ cao nhất ( 20,13%), tiếp đến là giai đoạn trầm cảm nặng có loạn thần ( 16,89%), thấp nhất là nhóm bệnh nhân RLCXLC hiện tại trầm cảm nặng không loạn thần ( 0,13%).

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát bệnh trầm cảm

Bảng 3.4 Tuổi khởi phát và giới của bệnh nhân nghiên cứu

             Giới


Lứa tuổi

Nam

Nữ

Tổng số

n

%

n

%

n

%

16 - 25

25

16,23

34

22,08

59

38,31

26 - 35

20

12,99

23

14,93

43

27,92

36 - 45

8

5,19

13

8,44

21

13,64

46 - 50

12

7,79

19

12,34

31

20,13

Tổng số

65

42,21

89

57,79

154

100,0

 

Nhận xét: Tuổi khởi phát ở nhóm 16-25 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (38,31%), thấp nhất là nhóm 36-45 tuổi (13,64%). Tuổi khởi phát trung bình= 34,79 ± 10,01. Nữ chiếm tỷ lệ 57,79%, nam chiếm 42,21 %.

Bảng 3.5.Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 

             Giới

Hôn nhân

Nam

Nữ

Tổng số

n

%

n

%

n

%

Chưa kết hôn

22

14,29

30

19,48

52

33,77

Đã kết hôn

38

24,68

47

30,52

85

55,19

Ly hôn

3

1,95

7

4,55

10

6,93

Ly thân

2

1,3

5

3,25

7

4,55

Tổng số

65

42,21

89

57,79

154

100,0

Nhận xét: Số bệnh nhân phải vào viện trong tình trạng ly hôn hoặc ly thân là thấp nhất, nhiều nhất là nhóm đã kết hôn

Bảng 3.6 Nghề nghiệp của bệnh nhân nghiên cứu 

              Giới

Nghề nghiệp

Nam

Nữ

Tổng số

n

%

n

%

n

%

Viên chức

8

5,19

13

8,44

21

13,64

Học sinh- Sinh viên

12

7,79

14

9,09

26

16,88

Công nhân

5

3,25

7

4,55

12

7,79

Nông dân

36

23,38

48

31,17

84

54,55

Nghề nghiệp khác

4

2,60

7

4,55

11

7,14

Tổng số

65

42,21

89

57,79

154

100,0

Nhận xét: Nông dân bị mắc bệnh trầm cảm chiếm tỷ lệ cao nhất ( 54,55 %), thấp nhất là nhóm nghề nghiệp khác (6,82%).

Bảng 3.7 Các loại nhân cách của bệnh nhân nghiên cứu

Giới

 

Loại nhân cách

Nam

Nữ

Tổng số

n

%

n

%

n

%

Nhân cách yếu

2

1,30

5

3,25

7

4,55

Tính kín đáo, ít thổ lộ san sẻ

4

2,60

20

12,99

24

15,58

Tính hay lo lắng trong cuộc sống

15

9,74

40

25,97

55

35,71

Tính hiếu thắng, tự cao

5

3,25

2

1,30

7

4,55

Hay đòi hỏi yêu sách

2

1,30

5

3,25

7

4,55

Tính ích kỷ

5

3,25

2

1,30

7

4,55

Không có yếu tố nhân cách

32

20,78

15

9,74

47

30,52

Tổng số

65

42,21

89

57,79

154

100,00

Nhận xét: Trong số BN mắc bệnh trầm cảm do yếu tố nhân cách thì những BN hay lo lắng trong cuộc sống chiếm tỷ lệ cao nhất ( 35,71 %). Tiếp đến là những người có tính kín đáo, âm thầm chịu đựng, ít thổ lộ san sẻ ( chiếm15,58 %). Nếu cộng cả 3 nhóm yếu tố ( nhân cách yếu, ít thổ lộ và hay lo âu) thì chiếm tới 55,84%)

4. Bàn luận:

4.1 Cơ cấu các rối loạn trầm cảm:

4.1.1 Các mức độ rối loạn trầm cảm: Bảng 3.1 và 3.3 cho thấy, trầm cảm nặng có loạn thần chiếm tỷ lệ cao nhất ( 30,52%). Thấp nhất là trầm cảm nhẹ chỉ chiếm 7,14%. So sánh 2 nhóm đối tượng này thì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Mức độ trầm cảm nhẹ và vừa có 63 BN, chiếm 40.91%, mức độ trầm cảm nặng có 91 BN, chiếm 59,09%. Như vậy trong cơ cấu bệnh trầm cảm của 154 BN phải nhập viện thì trầm cảm nặng chiếm tỷ lệ cao nhất. Điều này cho thấy nhận thức của người dân về trầm cảm còn rất hạn chế, họ chỉ vào viện khi nào bệnh đã nặng, điều này ảnh hưởng rất lớn đến tiên lượng cũng như kết quả điều trị, vì vậy cơ hội điêù trị khỏi cũng rất hạn chế do bệnh đã chuyển sang giai đoạn mạn tính.việc tuyên truyền giáo dục để mọi người dân hiểu về bệnh trầm cảm là rất quan trọng, để họ và gia đình có ý thức chữa bệnh ngay từ khi bệnh mới xuất hiện.

4.1.2 Các loại trầm cảm ở bệnh nhân nghiên cứu : Gồm có 3 dạng trầm cảm như sau: Nhóm BN giai đoạn trầm cảm chiếm tỷ lệ cao nhất ( 57,14%), nhóm BN trầm cảm tái diễn chiếm 31,82%, thấp nhất là nhóm bệnh nhân rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm ( chiếm 11,39%). Như vậy, bệnh nhân vào viện đa số là giai đoạn trầm cảm và trầm cảm tái diễn, nếu gộp cả 2 nhóm vào thì chiếm tới 88,96% ( bảng 3.2).

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát bệnh trầm cảm

4.2.1 Tuổi khởi phát và giới:Kết quả bảng 3.4 cho thấy khởi phát bệnh trầm cảm gặp ở tất cả các lứa tuổi từ 16 đến 50. Trong đó nhóm tuổi mắc bệnh cao nhất là 16-25 chiếm 38,31%. Nếu tính tuổi từ 16 đến 45 thì số bệnh nhân khởi phát chiếm tới 79,87%, trong khi đó nhóm tuổi 46 - 50 chỉ chiếm tỷ lệ 20,13%, như vậy đa số BN phát bệnh ở vào lứa tuổi từ 16 đến 45. Tuổi khởi phát trung bình trong nghiên cứu là = 34,79 ± 10,01. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với tác giả G. Klein (1995 ), nhiều người bị bệnh lần đầu tiên vào lứa tuổi thanh thiếu niên (trung bình 25,6 tuổi), tuổi khởi phát trung bình là 35, trong đó nữ thường khởi phát < 35 và nam >35 [2];[6]. Theo F. Rouillon (1995), trầm cảm nặng thường gặp ở tuổi từ 18-44 [8]. Một số tác giả khác cho thấy, trầm cảm nặng thường gặp ở tuổi 25-35, trong đó tuổi từ 14-18 khoảng 18,5%, ở thanh thiếu niên trước dậy thì là 0,5-3% [6];[7]. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nữ chiếm tỷ lệ 57,79%, nam chiếm 42,21 %, điều này khác với các tác giả khác, có thể nghiên cứu của chúng tôi trong bệnh viện nên thu hẹp hơn, còn các tác giả khác nghiên cứu ở phạm vi lớn hơn. Theo nhiều tác giả, nữ thường có tỷ lệ bị trầm cảm cao hơn nam > 3 lần[5],[6],[8]. Tỷ lệ nữ/ nam có những biến đổi theo nền văn hoá của các dân tộc như: 1,9 nữ / 1 nam ở Mỹ(M.M.Weissman 1988), 4,8 nữ / 1 nam ở Puerto Rico (G.L. Casio 1987) [8]. Theo B. Kristina (2002), các hormon đóng vai trò kiểm soát về cảm xúc và khí sắc, chu kỳ kinh nguyệt, chửa, đẻ, mãn kinh... là những yếu tố làm dao động khí sắc và có thể gây trầm cảm [7]. Tính dễ bị tổn thương của phụ nữ đối với trầm cảm đã được nghiên cứu rất nhiều, vả lại người phụ nữ thường phải chịu ảnh hưởng bởi sức ép nặng nề từ phía các điều kiện trong xã hội và gia đình cao hơn nam, do vậy tỷ lệ trầm cảm ở nữ cao hơn nam.

4.2.2 Tình trạng hôn nhân:Bảng 3.5 cho thấy, kết hôn chiếm tỷ lệ 55,19%, chưa kết hôn chiếm 33,77%. Tuy nhiên nếu so sánh giữa nhóm đã kết hôn ( gồm cả ly thân, ly hôn ) là 66,23% với nhóm chưa kết hôn là 33,77%, điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của F. Rouillon (1995), tỷ lệ trầm cảm thấp nhất gặp ở những người chưa kết hôn bao giờ, trong khi đó tỷ lệ trầm cảm lại tăng cao ở những người li dị, goá bụa, ly thân. Ảnh hưởng của vấn đề hôn nhân cũng như ảnh hưởng của đời sống kinh tế xã hội là khác nhau theo lứa tuổi,một số tác giả cho là trầm cảm thường gặp ở những người không kết hôn với tuổi trung bình là 45-64, một số khác lại cho là trầm cảm thường gặp nhất ở tuổi trẻ từ 18-44 [8].

4.2.3 Nghề nghiệp của bệnh nhân nghiên cứu: Kết quả bảng 3.6 cho thấy, nông dân bị các bệnh về trầm cảm chiếm tỷ lệ cao nhất (54,55 %). Số nông dân mắc bệnh chiếm tỷ lệ cao hơn so với tất cả các nghề khác gộp lại (45,45%). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với tác giả Tô Thanh Phương [2]. Theo chúng tôi, tỷ lệ nông dân mắc các bệnh trầm cảm phải vào viện cao hơn các đối tượng khác có thể do nước ta là nước nông nghiệp do vậy nông dân chiếm phần đa số. Nhiều người cho là do ma làm, giời hành nên đã dùng các biện pháp mê tín để đuổi ma như cho uống nước tàn nhang, đánh roi dâu. Do mê tín, cúng bái nhiều trước khi vào viện cho nên bệnh đã đến giai đoạn nặng thì mới cho vào viện.

4.2.4. Các yếu tố về nhân cách của bệnh nhân nghiên cứu:Bảng 3.7 cho thấy, có 24 BN (chiếm 15,58% ) có tính cách kín đáo, ít thổ lộ san sẻ với mọi người về chuyện vui, chuyện buồn, ngay cả đối với người thân cũng ít khi tâm sự, thường âm thầm chịu đựng mọi sự việc xảy đến với mình. Có 7 BN ( chiếm 4,55 % ) có nhân cách yếu, thích được chiều chuộng, hay gây sự chú ý đối với mọi người, hay quan trọng hóa và cường điệu hóa mọi vấn đề nhất là những vấn đề có liên quan đến sức khỏe, lúc nào cũng muốn mình là tâm điểm chú ý của mọi người. Có 55 người ( 35,71 % ) có tính hay lo xa, làm việc gì cũng rất cẩn thận và luôn lo tới hậu quả có thể xẩy ra. Có người mặc dù con đã trưởng thành nhưng lúc nào cũng nghĩ chúng như là trẻ con, và dặn dò rất cẩn thận khi chúng đi đâu hoặc làm việc gì đó. Có người luôn lo về tương lai sắp tới của mình, của gia đình. Nếu cộng cả 3 nhóm yếu tố ( nhân cách yếu, ít thổ lộ và hay lo âu) thì chiếm tới 55,84%). Như vậy vấn đề nhân cách là một trong những yếu tố thuận lợi cho phát bệnh trầm cảm.

KẾT LUẬN: Kết quả nghiên cứu 154 bệnh nhân rối loạn trầm cảm, chúng tôi nhận thấy: Tuổi khởi phát trung bình=34,79 ± 10,01. Nữ chiếm tỷ lệ 57,79%, nam chiếm 42,21 %.

1.Nhận xét cơ cấu các rối loạn trầm cảm :

Các loại trầm cảm

Giai đoạn trầm cảm tổng số 88 bệnh nhân chiếm 57,14%

Trầm cảm tái diễn có 49 bệnh nhân chiếm 31,82%

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại trầm cảm có 17 bệnh nhân chiếm 11,39%

Các mức độ trầm cảm

- Trầm cảm nhẹ có 11 bệnh nhân chiếm 7,14%

- Trầm cảm vừa có 52 bệnh nhân chiếm 33,77%

- Trầm cảm nặng không có loạn thần có 44 bệnh nhân chiếm 28,57%

- Trầm cảm nặng có loạn thần có 47 bệnh nhân chiếm 30,52%

2.Một số yếu tố thuận lợi:

- Tuổi khởi phát ở nhóm mắc bệnh trầm cảm cao là 16-25 tuổi (38,31%).

- Bệnh nhân đã kết hôn bị trầm cảm chiếm tỷ lệ cao (55,19%).

- Nông dân bị các bệnh về trầm cảm chiếm tỷ lệ cao (54,55 % )

- Tính hay lo lắng trong cuộc sống chiếm tỷ lệ cao 35,71%

- Tính kín đáo, ít thổ lộ san sẻ chiếm 15,58%

Cơ cấu bệnh nhân trầm cảm vào viện và một số yếu tố thuận lợi trong nghiên cứu này giúp cho việc quản lý, phòng bệnh tốt hơn nhằm làm giảm nguy cơ phát bệnh và tái phát trầm cảm.

Tài liệu tham khảo

1. Trần Viết Nghị, Nguyễn Viết Thiêm…(2001), “ Nghiên cứu dịch tễ-lâm sàng các rối loạn trầm cảm tại một số quần thể cộng đồng”, Nội san tâm thần học, Hội tâm thần học (5). Hà nội, tr. 21-22.

2.Tô Thanh Phương (2006 ). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm nặng và điều trị bằng Amitriptyline phối hợp với thuốc chống loạn thần . Luận án Tiến sĩ Y học. Học viện Quân Y.

3.Beau P.; Odier B. (2010), Aspects socio-économiques de la dépression, La dépression, Masson, pp. 284-293.

4.Canceil O.; Guedj F.; Brochier.T.(2003), Données actuelles de la génétique,Les maladies dépressives, Médecine-Sciences-Flammarion, pp. 305-308.

5.Klein R.G. (2003), Les maladies dépressives chez l’adolescent, Les maladies dépressives, Médecine-Sciences-Flammarion, pp. 25-31

6.Kristina B.(2002), La dépression chez les jeunes, La dépression.

Institut scientifique de la santé publique,IPH/EPI . p 17.

7.Lancon C. (2001), Dépression et psychose, Dépressions et comorbilités psychiatriques

Masson, pp. 145,146,150-152.

8. Rouillon F; Martineau C(1996),“ Dépression et rechutes dépressives’’, Hôpital Louis Mourier 92701 Colombes, Ardix medical, pp. 5-8

 
 Thảo luận (Ý kiến của bạn?)   [Đọc sau]   [Trở về]

Tin mới:


Các tin đã đưa:

Xem tiếp >>

Tiêu điểm

  Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới.
Khảo sát tình hình bệnh nhân trầm cảm được điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I năm 2016
Lâm sàng trầm cảm và thay đổi thể tích não ở bệnh nhân qua MIR.
Khảo sát sự phát triển tâm lý - vận động ở trẻ em bằng Test Denver II
Ngày sức khoẻ tâm thần Thế giới năm 2017 (10-10-2017)
Xây dựng quy trình áp dụng kích thích từ xuyên sọ hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid.
  Sức khỏe Tâm thần Tiếp» 
Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát bằng phối hợp thuốc an thần kinh với chống trầm cảm thế hệ mới.
Đánh giá một số yếu tố liên quan đến phát bệnh trầm cảm.
Khảo sát tình hình bệnh nhân trầm cảm được điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I năm 2016
 
  Báo cáo ca lâm sàng Tiếp» 
Nhận xét một số đặc điểm tâm lý qua tranh vẽ ở một trường hợp có khó khăn tâm lý
Nhận xét điều trị 5 bệnh nhân tâm thần phân liệt trầm cảm có hành vi đặc biệt nguy hiểm
Báo cáo một trường hợp bệnh tâm thần phân liệt đặc biệt
 
Dành cho Quảng cáo

® BẢN QUYỀN THUỘC BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I
Điện thoại : 04.33853227 - 04.33850050 - 04.33852902 - 04.33850589 - 04.33853534; Fax : 04.33853190
Email :
bvtttw1@yahoo.com.vn : Website : http://www.bvtttw1.gov.vn

(Sử dụng phần mềm quản lý nội dung Website (CMS) của NtSoft Jsc)