Thứ sáu, 18/08/2017

 

Trang chủ

Liên hệ

Góp ý

Tìm kiếm

Liên kết Website

Bài được xem nhiều nhất

Lịch sử hình thành...

Nhận biết các dấu hiệu cảnh báo sớm của các bệnh lý tâm thần....

CÁC DỊCH VỤ - KỸ THUẬT KHÁM, CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN...

Chức năng nhiệm vụ của Bệnh viện....

BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT (Schizophrenia)...

Quảng cáo

Mời quảng cáo trên Website

 
 

Thứ sáu, 30/06/2017 - 08:56" GMT+7


Page for print!    Send to friend ->

Kết quả điều trị trầm cảm sau sinh bằng thuốc chống trầm cảm phối hợp thuốc an thần.
 

         Result of treatment for postpartum depression  
         by  antidepressants coordinated with neuroleptics
                                          Tác giả: TS. Tô Thanh Phương
                                           Điện thoại: 0982612161

Tóm tắt: Mục tiêu đánh giá hiệu quả sự phối hợp thuốc an thần kinh với thuốc chống trầm cảm điều trị người bệnh trầm cảm sau sinh. Đối tượng và phương pháp, tiến cứu can thiệp trên 30 người bệnh trầm cảm sau sinh được điều trị tại bệnh viện tâm thần trung ương 1 năm 2015 và 2016. Kết quả 100% người bệnh hết biểu hiện căng thẳng hoảng sợ và bồn chồn đứng ngồi không yên, 73,33 % hết cảm giác buồn rầu, 100% hết hoang tưởng và ảo giác, 100% hết ý định giết con. Kết luận Sự phối hợp thuốc an thần kinh với thuốc chống trầm cảm đem lại hiệu quả cao điều trị trầm cảm sau sinh.

Từ khóa: Trầm cảm sau sinh, an thần kinh, chống trầm cảm.

Summary: The objective to assess the effectiveness of coordination neuroleptics with antidepressants treat postpartum depression. Subjects and methods, prospective intervention o­n 30 postpartum depression who are treated at the central mental hospital in 2015 and 2016.Results 100% of patients of all manifestations of stress and anxiety panic restlessness, 73,33% of all feeling sorrow, 100% of all delusions and hallucinations , 100% of all the murderous intent. Conclusion The combination of neuroleptics with antidepressants provide effective treatment of depression postpartum,
Keywords: postpartum depression, neuroleptics, antidepressant.

Đặt vấn đề: Theo các tác giả A.Gérard; F.Raffaitin; H.Cuche ( 1995)[3], rối loạn tâm thần và hành vi kết hợp với thời kỳ sinh đẻ là loại bệnh ít gặp do hiện tượng biến đổi hormon Steroide, đặc biệt là giảm đột ngột Estrogen và các chất dưỡng thai. Theo Lempérière, dạng rối loạn này chiếm 0,15% số người đẻ và chỉ gặp trong thực hành tâm thần và trong các bệnh viện phụ sản. Sau đẻ, đa số phụ nữ có biểu hiện mất ngủ, lo âu, dễ tủi thân, căng thẳng, mệt mỏi, ăn uống kém, nếu được chồng hoặc gia đình động viên giúp đỡ thì các triệu chứng này qua đi. Nếu sau 2 tuần mà không hết, các triệu chứng có xu hướng tăng lên và trở thành bệnh lý hoặc là loạn thần sau sinh, hưng cảm sau sinh hoặc trầm cảm sau sinh. Trầm cảm sau sinh là loại trầm cảm xuất hiện trong vòng 1 tháng sau sinh. Bệnh thường để lại hậu quả rất nặng nề cho bản thân người bệnh cũng như tính mạng của đứa trẻ vì người mẹ thường ghét con, không thể chăm sóc được con. Khi bệnh nặng có thể xuất hiện hoang tưởng, ảo giác, các loại hoang tưởng thường xoay quanh đứa con như con của mình sinh ra đã bị chuyển giới tính, con sinh ra ngoài ý muốn, tương lai của con sau này không ra gì, vì sinh ra nó mà mình khổ thế này…do vậy có thể dẫn đến hành vi giết con rồi tự sát. Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy, việc nghiên cứu điều trị trầm cảm sau sinh có ý nghĩa thiết thực trong thực hành lâm sàng tâm thần học, qua đó có thể giúp các thầy thuốc điều trị phù hợp nhằm ngăn chặn các hành vi nguy hiểm của người bệnh. Do vậy chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị trầm cảm sau đẻ bằng thuốc chống trầm cảm phối hợp với thuốc an thần.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Gồm 30 bệnh nhân trầm cảm sau sinh đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD -10 mục F53.0 [2]. Các bệnh nhân này được điều trị nội trú tại Bệnh viện tâm thần trung ương 1 trong năm 2015 và 2016.

Các bệnh nhân này được điều trị bằng thuốc an thần kinh Olanzapin 20mg/ngày hoặc Amisulprid 800mg/ngày, phối hợp với thuốc chống trầm cảm Escitalopram (Eslo 20 mg) trong thời gian 40 ngày.

Bệnh nhân được đánh giá bằng khám lâm sàng tại 2 thời điểm ngày N1 và N40.

2.2 Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang, mô tả từng trường hợp.

Xử lý số liệu theo chương trình g Epiinfo 6.0

3. Kết quả nghiên cứu

Bảng 1. Tỷ lệ trầm cảm và lo âu

               Nhóm bệnh

 

Triệu chứng

Trước điều trị

n=30

Sau điều trị

n=30



p

n

%

n

%

Trầm cảm

30

100,0

8

26,67

< 0,001

Lo âu

20

66,67

1

3,33

< 0,001

 

Các biểu hiện trầm cảm ngày N1 là 100%, đến ngày N40 còn 26,67%. Tỷ lệ lo âu thuyên giảm từ 66,67% ở ngày N1 xuống còn 3,33% ở ngày N40. So sánh trước và sau điều trị, sự khác biệt có ý nghĩa với p< 0,001.

Bảng 2. Các triệu chứng rối loạn cảm xúc

            Nhóm bệnh

 

Triệu chứng

Trước điều trị

n=30

Sau điều trị

n=30

 

p

n

%

n

%

Buồn rầu

30

100,0

8

26,67

< 0,001

Bi quan, chán nản

20

66,67

6

20,0

< 0,05

Đau khổ, thất vọng

19

63,33

1

3,33

< 0,001

Hoảng sợ, căng thẳng

4

13,33

0

0,00

 

Hằn học

2

6,67

0

0,00

 

Mất các sở thích cũ

30

100,0

10

33,33

< 0,01

Các rối loạn cảm xúc hay gặp là khí sắc giảm (100%), mất hứng thú và sở thích (100%), bi quan-chán nản (66,67%) và đau khổ, thất vọng (63,33%). Các triệu chứng này đều thuyên giảm rõ ràng sau 40 ngày diều trị.

Bảng 3. Các triệu chứng rối loạn tư duy, tri giác

            Nhóm bệnh

  

Triệu chứng

Trước điều trị

n=30

Sau điều trị

n=30



P

n

%

n

%

Nói chậm chạp

25

83,33

8

26,67

< 0,01

Không nói

4

13,33

0

0,00

 

Than vãn, kể lể

5

16,67

0

0,00

 

Ý định tựsát

10

33,33

0

0,00

 

Hoang tưởng tự buộc tội

16

 53,33

0

0,00

 

Ảo thanh xui khiến

10

33,33

0

0,00

 

Nói chậm là triệu chứng hay gặp nhất với 83,33%. Tiếp theo là hoang tưởng tự buộc tội với 53,33%. Sau điều trị, triệu chứng nói chậm còn gặp ở 26,67% số bệnh nhân.

Bảng 4. Các triệu chứng rối loạn hành vi

          Nhóm bệnh

 

Triệu chứng

Trước điều trị

n=30

Sau điều trị

n=30

 

p

n

%

n

%

Giảm vận động

30

100,0

8

26,67

< 0,01

Bồn chồn

8

26,67

0

0,00

 

Kích động

4

13,33

0

0,00

 

Không chăm sóc con

25

83,33

5

16,67

< 0,01

Ý định giết con

4

13,33

0

0,00

 

Hành vi tự sát

8

26,67

0

0,00

 

Giảm vận động (100% số bệnh nhân) và không chăm sóc con (83,33%) là hai triệu chứng hay gặp nhất. Hành vi tự sát gặp ở 26,67% số bệnh nhân. Sau điều trị, chỉ còn 26,67% số bệnh nhân vận động chậm chạp, 16,67% không chăm sóc con.

Bảng 5. Các triệu chứng cơ thể

                            Nhóm bệnh

 

Triệu chứng

Trước điều trị

n=30

Sau điều trị

n=30

 

p

n

%

n

%

Giảm cân

25

83,33

0

0,00

< 0,001

Ăn mất ngon

30

100,0

2

6,67

< 0,001

Rối loạn giấc ngủ

30

100,0

2

6,67

< 0,001

Đau đầu

15

50,00

5

16,67

< 0,05

Rối loạn giấc ngủ (100%), ăn mất ngon (100%) và giảm cân (83,33%) là các triệu chứng hay gặp nhất. Đau đầu chỉ chiếm 50% số bệnh nhân. Sau điều trị, các triệu chứng trên thuyên giảm rất rõ ràng, trừ triệu chứng đau đầu còn 16,67%.

4. Bàn luận

- Tỷ lệ trầm cảm và lo âu

Trầm cảm sau đẻ luôn có lo âu đi kèm. Điều này phù hợp với ý kiến của Gerard A (1995)[3]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân có lo âu phối hợp là 66,67%. Tuy nhiên cả trầm cảm và lo âu đều thuyên giảm rõ ràng sau điều trị.

- Các triệu chứng rối loạn cảm xúc

Khí sắc giảm, mất hướng thú và sở thích, bi quan chán nản, đau khổ thất vọng chiếm tỷ lệ rất cao trong nghiên cứucủa chúng tôi. Kết quả này phù hợp với Trương Thị Kim Dung (1996)[1] khi cho rằng hầu hết các bệnh nhân đều có các rối loạn trên.

- Các triệu chứng rối loạn tư duy

Theo Gerard A. và Guedj F (2003)[4] nói chậm và hoang tưởng tự buộc tôi là các triệu chứng phổ biến nhất. Trong nghiên cứu của chúng tôi, nói chậm chiếm 83,33% còn hoang tưởng tự buộc tội chiếm 53,33%.

- Các triệu chứng rối loạn hành vi

Theo Hardy-Baylé M.C (1986)[5], giảm vận động và không chăm sóc được con là 2 triệu chứng nổi bật nhất. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 100% số bệnh nhân có vận động chậm chạp và 83,33% số bệnh nhân không chăm sóc được con. Có 4 bệnh nhân có ý định giết con trong đó có 1 bệnh nhân cho là vì nó mà mình khổ và đã định ôm con nhảy từ tầng 2 xuống.Tuy nhiên, các triệu chứng này thuyên giảm rõ rệt sau điều trị. Ý định tự sát thường khá mạnh và kéo dài, sau điều trị không bệnh nhân nào còn ý định tự sát. Không thấy BN nào có HT tập trung vào đứa con do mình mới sinh ra, điều này có khác với một số nghiên cứu của tác giả Gerard A [4], HT gặp trong nghiên cứu chủ yếu là HT tự buộc tội.

- Các triệu chứng cơ thể

Ăn mất ngon (100%), mất ngủ (100%) và giảm cân (83,33%) là các triệu chứng hay gặp nhất. Kết quả này phù hợp với Trương Thị Kim Dung (1996)[1], khi cho rằng hầu hết các bệnh nhân sau đẻ đều có các triệu chứng trên.

5. Kết luận

-66,67% số bệnh nhân trầm cảm có lo âu phối hợp. Các rối loạn trầm cảm và lo âu đều thuyên giảm rõ rệt sau điều trị.

-Khí sắc giảm (100%), mất hứng thú và sở thích (100%), bi quan (66,67%), đau khổ (63,33%) là các triệu chứng rất phổ biến và thuyên giảm tốt, sau điều trị 73,33% hết biểu hiện buồn rầu.

-Nói chậm chiếm 83,33% và hoang tưởng tự buộc tội chiếm 53,33%. Sau điều trị100% bệnh nhân hết hoang tưởng và ảo giác.

-Giảm vận động (100%) và không chăm sóc con (83,33) là các triệu chứng rối loạn vận động hay gặp nhất. Sau điều trị, còn 16,67% vẫn chưa muốn chăm sóc con.

-Ăn mất ngon chiếm 100%, mất ngủ chiếm 100%) và giảm cân chiếm 83,33% số bệnh nhân. Sau điều trị, chỉ còn 6,67% còn ít ngủ và 16,67% còn đau đầu nhưng cường độ giảm hơn nhiều

Sự phối hợp thuốc an thần kinh với thuốc chống trầm cảm đem lại hiệu quả cao điều trị trầm cảm sau sinh.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trương Thị Kim Dung (1996), Rối loạn tâm thần thời kỳ sau đẻ. Một số chuyên đề tâm thần học. Học viện quân Y, tr 21-22

2.Tổ chức y tế thế giới ( 1992), Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi.kết hợp với thời kỳ sinh đẻ, tr 87-100

3.Gerard A. ;Raffaitin ; Cuche H. (1995), Depression chez la femme, les maladie depressives, Médecine-Sciences-Flâmmrion, pp.84-89

4.Gerard A. ; Guedj F (2003), Depression chez la femme, les maladie depressives, Médecine-Sciences-Flâmmrion, pp. 98-106

5.Hardy-Baylé M.C (1986), Troubles psychiques liés à la puerperalité, Enseigenment de la psychiatrie. Doin éditeur. Pp 161-166.

TS. Tô Thanh Phương

 
 Thảo luận (Ý kiến của bạn?)   [Đọc sau]   [Trở về]

Tin mới:


Các tin đã đưa:

Xem tiếp >>

Tiêu điểm

  Xây dựng quy trình áp dụng kích thích từ xuyên sọ hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid.
Kết quả điều trị trầm cảm sau sinh bằng thuốc chống trầm cảm phối hợp thuốc an thần.
  Đánh giá hiệu quả điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt Paranoid bằng kỹ thuật sốc điện một bên.
Điều trị mất ngủ mãn tính.
Áp dụng kỹ thuật kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ám ảnh cưỡng bức
Hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt Paranoid bằng kích thích từ xuyên sọ.
  Sức khỏe Tâm thần Tiếp» 
Xây dựng quy trình áp dụng kích thích từ xuyên sọ hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid.
Kết quả điều trị trầm cảm sau sinh bằng thuốc chống trầm cảm phối hợp thuốc an thần.
Đánh giá hiệu quả điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt Paranoid bằng kỹ thuật sốc điện một bên.
 
  Báo cáo ca lâm sàng Tiếp» 
Nhận xét một số đặc điểm tâm lý qua tranh vẽ ở một trường hợp có khó khăn tâm lý
Nhận xét điều trị 5 bệnh nhân tâm thần phân liệt trầm cảm có hành vi đặc biệt nguy hiểm
Báo cáo một trường hợp bệnh tâm thần phân liệt đặc biệt
 
Dành cho Quảng cáo

® BẢN QUYỀN THUỘC BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I
Điện thoại : 04.33853227 - 04.33850050 - 04.33852902 - 04.33850589 - 04.33853534; Fax : 04.33853190
Email :
bvtttw1@yahoo.com.vn : Website : http://www.bvtttw1.gov.vn

(Sử dụng phần mềm quản lý nội dung Website (CMS) của NtSoft Jsc)