Chủ nhật, 19/11/2017

 

Trang chủ

Liên hệ

Góp ý

Tìm kiếm

Liên kết Website

Bài được xem nhiều nhất

Lịch sử hình thành...

Nhận biết các dấu hiệu cảnh báo sớm của các bệnh lý tâm thần....

CÁC DỊCH VỤ - KỸ THUẬT KHÁM, CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN...

Chức năng nhiệm vụ của Bệnh viện....

BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT (Schizophrenia)...

Quảng cáo

Mời quảng cáo trên Website

 
 

Thứ hai, 12/12/2016 - 10:09" GMT+7


Page for print!    Send to friend ->

Điều trị trầm cảm nặng có loạn thần bằng kích thích từ xuyên sọ kết hợp với thuốc an thần kinh và chống trầm cảm.
 

     Treatment of major depression with psychotic by transcranial magnetic stimulation in combination with neuroleptics and antidepressants.
     
      Tác giả:   TS. Tô Thanh Phương

Tóm tắt: Mục tiêu đánh giá hiệu quả và độ an toàn của kích thích từ xuyên sọ kết hợp với thuốc an thần kinh và chống trầm cảm điều trị trầm cảm nặng có loạn thần. Đối tượng và phương pháp, tiến cứu can thiệp mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân trầm cảm nặng có loạn thần được điều trị tại bệnh viện tâm thần trung ương 1 năm 2015. Kết quả các biểu hiện buồn rầu, bồn chồn đứng ngồi không yên và hoang tưởng thuyên giảm hết, 63,63% bệnh nhân hết ảo thanh. Kết luận tần số 25 hez và số xung từ 4800 đến 5400 cho một lần kích thích có hiệu quả tốt điều trị các triệu chứng của trầm cảm nặng có loạn thần.

Từ khóa: Trầm cảm nặng có loạn thần, kích thích từ xuyên sọ, an thần kinh, chống trầm cảm

Summary: The objective to assess the effectiveness and safety of transcranial magnetic stimulation in combination with neuroleptics and antidepressants can treat psychotic major depression. Subjects and Methods prospective descriptive cross-sectional intervention o­n 30 patients with psychotic major depression were treated at the Central Mental Hospital 1, 2015. The results of the expression of sadness, restlessness not stand sitting paranoid yen and relieved of all, 63.63% of patients who virtual bar. Conclusion hez frequency and number of pulses 25 from 4800 to 5400 for a stimulation are effective treatment of the symptoms of major depression with psychosis.

Keywords: Severe depression with psychosis, transcranial magnetic stimulation, neuroleptics, antidepressants

1. Đặt vấn đề: Trầm cảm hiện nay là một vấn đề thời sự, tất cả các đối tượng đều có thể bị trầm cảm, khi xã hội càng phát triển, càng có nhiều stress thì trầm cảm càng nhiều. Trầm cảm có xu hướng gia tăng và chiếm tới 20 % dân số dưới các dạng khác nhau, trong đó trầm cảm điển hình chiếm 5% dân số [3], ở Việt nam là 2,8% [2]. Bệnh thường gặp ở tuổi từ 18 đến 44, nữ bị rối loạn trầm cảm cao gấp 3 lần nam [1]. Khoảng 45-70% những người tự sát mắc bệnh trầm cảm và 15% bệnh nhân trầm cảm chết do tự sát. Trầm cảm nặng thường kèm theo mất ngủ, mệt mỏi, chán ăn, khi bệnh nặng có thể từ chối ăn và sẽ chết trong tình trạng suy kiệt do rối loạn nước và điện giải. Trầm cảm nặng có loạn thần là loại bệnh nặng, người bệnh có thể có hành vi nguy hiểm như tự sát hoặc tấn công người khác do hoang tưởng hoặc ảo giác chi phối.

Việc điều trị trầm cảm hiện nay có nhiều bước tiến quan trọng với nhiều loại thuốc thế hệ mới. Tuy nhiên, ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân trầm cảm rất khó chữa. Kích thích từ xuyên sọ là kỹ thuật mới, không xâm lấn và vô hại với người bệnh. Việc nghiên cứu áp dụng kích thích từ xuyên sọ điều trị trầm cảm nặng có loạn thần giúp người bệnh ổn định là rất cần thiết.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

2.1.1 Mẫu nghiên cứu: gồm 30 bệnh nhân trầm cảm nặng có loạn thần đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD -10 mục F32.3 và F33.3,được điêù trị tại Bệnh viện tâm thần trung ương 1 năm 2015.

Tuổi: từ 18-50.Giới: cả 2 giới

2.1.2 Phân nhóm nghiên cứu:

- Nhóm dùng thuốc ( N1) : chỉ dùng thuốc an thần kinh và chống trầm cảm

- Nhóm kích thích từ ( N2): kết hợp kích thích từ với an thần kinh và chống trầm cảm

2.2 Phương pháp nghiên cứu:tiến cứu can thiệp, mô tả cắt ngang.

- Bệnh nhân nhóm N1 dùng thuốc trong thời gian 2 tuần mà các triệu chứng trầm cảm loạn thần vẫn không hết sẽ được chuyển sang nhóm N2.

- Thuốc sử dụng cho cả 2 nhóm:

+ Thuốc an thần kinh :olanzapine10 mg,ngày uống2 viên ( trưa 1 viên, tối1 viên)

+Thuốc chống trầm cảmsertraline 50 mg ngày uống 2 viên ( trưa 1 viên, tối1 viên)

- Kích thích từ điều trị hàng ngày, tuần 5 buổi. Kết quả được so sánh trước và sau điều trị kích thích từ.

2.2.1 Công cụ nghiên cứu:Thang đánh giá trầm cảm Beck, thang đánh giá mức độ ảo thanh ( Panss) và máy kích thích từ xuyên sọ do Liên bang Nga sản xuất.

2.2.2. Các bước tiến hành điều trị bằng máy kích thích từ xuyên sọ

Bước 1: xác định vị trí kích thích và ngưỡng vận động

Vị trí kích thích: Kích thích vùng vỏ não trán trước bên trái.



Ngưỡng vận động :Nối điểm trước trên 2 tai, kẻ đường thẳng giữa đầu từ trước ra sau, tại vị trí giao nhau sẽ đo 5cm về phía trái trên đường nối 2 điểm trước tai, đánh dấu vị trí này để xác định ngưỡng vận động.

Bước 2 : chọn tần số, thời gian và xung kích thích từ

Bước 3: tiến hành kích thích theo các đợt. Theo Roland Dardennes [5], khi kích thích vùng thái dương đỉnh phải để điều trị ảo thanh kéo dài trong thời gian 10 buổi thì ảo thanh đã giảm. Do vậy chúng tôi vận dụng vào từng nấc 10 ngày để điều trị kích thích từ

Đợt 1: khởi đầu điều trị với tần số 15 hez. thời gian 15 phút, số xung 1200 tăng đến 4000 xung/ buổi. Sau 10 ngày mà các triệu chứng loạn thần không giảm thì sang đợt 2

Đợt 2: tần số 15 hez, thời gian 20 phút, xung tăng dần từ 4000 đến 8100 xung / buổi. Sau 10 ngày mà triệu chứng loạn thần không giảm hết thì sang đợt 3.

Đợt 3: tần số 20 hezthời gian 20 phút / buổi. Sau 10 ngày mà triệu chứng loạn thầnkhông hết thìsang đợt 4.

Đợt 4: tần số 25 hezthời gian 20 phút / buổi. Sau 10 ngày kích thích trên ngưỡng mà triệu chứng loạn thần không hết thì dừng điều trị, coi như không đáp ứng với điều trị bằng kích thích từ .

3.Kết quả nghiên cứu

3.1 Một số đặc điểm chung :lứa tuổi 16-35 chiếm 76,67%, 46-50 tuổi (10%). Theo nhiều tác giả, tuổi khởi phát của trầm cảm đa số ở lứa tuổi từ 18-44., nữ chiếm tỷ lệ 86,67% , nam 13,33 % [1],[2],[3].

3.2 Đánh giá hiệu quả của kích thích từ

 Bảng 1.Mức độ thuyên giảm của rối loạn cảm xúc

               Bệnh nhân nghiên cứu

 

Biểu hiện cảm xúc

Trước kích thích từ

(n=30)

Sau kích thích từ

( n=30)

 

P

n

%

n

%

 

Buồn rầu, đau khổ

30

100,00

4

13,33

0.000

Bi quan, chán nản

20

100,0

0

0,00

0,000

Giảm năng lượng, mệt mỏi

30

100,00

5

16,67

0,000

Giảm các sở thích

30

100,00

10

33,33

0,002

      Các rối loạn cảm xúc đều thuyên giảm sau kích thích từ.

Bảng 2: Mức độ thuyên giảm của các rối loạn trị giác theo thang Panss

Bệnh nhân nghiên cứu

 

Ảo thanh

Trước kích thích từ

(n=30)

      Sau kích thích từ

( n=30)

 

p

 

n

%

n

%

Ảo thanh xui khiến

19

63,34

5

16,68

0,004

Ảo thanh đầu đe dọa

4

13,33

1

3,34

0,179

Ảo thanh đàm thoại

3

10,00

1

3,34

0,317

Tiếng ve, tiếng giun dế

4

13,33

4

.13,33

1

Ảo thanh tiếng ve, giun dế kêu là không giảm

Bảng 3Mức độ thuyên giảm của các rối loạn tư duy

Bệnh nhân nghiên cứu

 

Hoang tưởng

Trước kích thích từ

(n=30)

Sau kích thích từ

( n=30)

 

p

 

n

%

n

%

Hoang tưởng bị tội

6

20,00

0

0,00

0,014

Hoang tưởng tự buộc tội

4

13,33

0

0,00

0,046

Hoang tưởng nghi bệnh,

4

13,33

0

0,00

0,046

Hoang tưởng bị đầu độc

3

10,00

0

0,00

0.083

Hoang tưởng phủ định

4

13,33

0

0,00

0.046

Ý định tự sát

9

30,00

0

0,00

0,003

         Các loại hoang tưởng đều thuyên giảm hết sau kích thích từ ( p< 0,05) 

Bảng 4Mức độ thuyên giảm của các rối loạn hành vi

Bệnh nhân nghiên cứu

 

Hành vi

    Trước kích thích từ

(n=30)

            Sau kích thích từ

                    ( n=30)

 

p

 

n

%

n

%

Hành vi tự sát

5

16,67

0

0,00

0,025

Chống đối không ăn

5

16,67

0

0,00

0,025

Nằm nhiều

12

40,00

4

13,33

0,046

Hay kêu ca

5

16,67

0

0,00

0,025

Đi lại nhiều, bồn chồn

đứng ngồi không yên

3

10,00

0

0,00

0,083

Các rối loạn hành vi thuyên giảm nhiều sau kích thích từ.

Bảng 5:  Mức độ thuyên giảm của các triệu chứng cơ thể

           Bệnh nhân nghiên cứu

 

      Triệu chứng cơ thể

Trước kích thích từ

(n=30)

        Sau kích thích từ

                  ( n=30)

 

p

 

n

%

n

%

Giảm cân

30

100,00

0

0,00

0,000

Ăn không ngon

30

100,00

0

0,00

0,000

Rối loạn kinh nguyệt

13

43,33

11

36,67

0,683

Rối loạn tình dục

20

66,67

15

50,00

0,398

Rối loạn giấc ngủ

30

100,00

0

0,00

0,000

Đau đầu

10

33,33

0

0,00

0,000

Trí nhớ giảm, hay quên

12

40,00

10

33,33

0,0669

Rối loạn kinh nguyệt thuyên giảm chậm, kết quả trước và sau kích từ không có ý nghĩa thống kê với p = 0,683

Bảng 6 Thuyêngiảm của các mức độ ảo thanh theo tần số kích thích. 

Mức độ

 

Loại kích thích

 

n

Mức độ 6

Mức độ 5

Mức độ 4

Mức độ 3

Mức độ 0

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Trước kích thích từ

30

14

46,67

8

26,67

2

6,67

6

20,0

0

0,00

kích

thích

từ

15 hez -15phút

30

6

20,00

5

16,67

5

16,67

3

10,00

11

36,67

20 hez -20 phút

19

2

10,53

4

21,05

5

26,32

5

26,32

3

15,79

25 hez -20 phút

16

0

0,00

2

12,5

3

18,75

6

37,5

5

31,25

Tần số 15 hez có tỷ lệ bệnh nhân hết ảo thanh cao nhất (36,67%)

3.4 Tác dụng không mong muốn :

Bảng 7. Tác dụng không mong muốn về thần kinh

Tác dụng phụ

 

Tần số

Choáng váng

Buồn nôn

nôn

Động kinh

Co giật

Biến đổi điện não

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Tần số 15 hez

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 20 hez

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 25 hez

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Kích thích từ không thấy có các trác dụng phụ về thần kinh

4. Bàn luận

4.1 Đánh giá hiệu quả của kích thích từ

Sau điều trị kích thích từ ( bảng 1), các biểu hiện buồn rầu đã giảm hết, bệnh nhân vui vẻ dễ chịu và phấn khởi hơn nhiều. Hiện tượng mệt mỏi cũng giảm nhiều và hầu hết bệnh nhân đều tham gia các hoạt động liệu pháp của bệnh viện. Tuy nhiên vẫn còn 33% bệnh nhân chưa muốn quay lại với công việc cũ mà mình ham thích vì chưa thấy hứng thú .

Ảo thanh xui khiến giảm mạnh, có thể là một hoặc nhiều người nói, có thể là giọng đàn ông hoặc đàn bà, nghe rất rừ ràng từng chi tiết, rất ồn ào khiến bệnh nhõn rất khú chịu, nhiều bệnh nhõn phải lấy tay bịt 2 tai lại, nét mặt thường căng thẳng hoảng sợ. Ảo thanh xui khiến thường ra lệnh bắt phải thực hiện hành vi nào đó như tự sát, nhẩy lầu, lao vào ô tô, tấn công người khác... Ảo thanh đe dọa cũng giảm, có thể là giọng của người đó chết hoặc ma quỷ khiến bệnh nhân rất sợ. Có thể đe dọa giết cả nhà, đe dọa giết con hoặc đe dọa bắt đi tù...cho nên bệnh nhân thường chạy trốn khi thấy có người lạ đến vỡ sợ cụng an đến bắt đi tù... Ảo thanh tiếng ve kêu hầu như không giảm.

Kếtthúc điều trị, có 19/30 bệnh nhân hết ảo thanh, chiếm 63,63%, số chưa hết thỡ

ảo thanh xuất hiện thưa hơn và cường độ giảm hơn nhiều.( bảng 2)

Kết quả sau điều trị tại bảng 3, tất cả các loại hoang tưởng đều hết và ý định tự sát cũng hết. Như vậy, kích thích từ xuyên sọ kết hợp với thuốc đó đem lại hiệu quả tốt.

Hành vi tự sát là nhẩy lầu, cắt cổ tay, uống thuốc sâu hoặc tân dược, sau điều trị không bệnh nhân nào muốn tự sát nữa ( bảng 4). Bệnh nhân chống đối không ăn sau một tuần điều trị đã ăn trở lại. Riêng biểu hiện nằm nhiều vẫn còn 4 bệnh nhân nhưng mức độ nằm nhiều cũng giảm hơn trước, trước đó nằm suốt ngày nhưng sau điều trị thì bệnh nhân đã đi lại nhiều hơn. Các biểu hiện bồn chồn đứng ngồi không yên đáp ứng tốt

Tất cả bệnh nhân đều giảm cân, sau hai tuần điều trị, tất cả đều ăn khỏe và hồi phục cân nặng. Các biểu hiện rối loạn kinh nguyệt, rối loạn tình dục và rối loạn trí nhớ là thuyên giảm chậm ( bảng 5)

Bảng 6, tần số 15 hez và số xung tăng dần từ 1200 lên 1500-2000-4000-5400, cao nhất có thể tới 8100 xung cho một lần kích thích.thì đã có tới 36,67% hết ảo thanh. Tuy nhiên, số bệnh nhân vẫn chưa hết ảo thanh phải dùng tần số cao hơn thì ảo thanh mới hết. Kêt quả, có tới 19/30 bệnh nhân đã hết ảo thanh, số bệnh nhân chưa hết ảo thanh thì cường độ ảo thanh cũng giảm nhiều. Tất cả hoang tưởng đều giảm hết. Có hai bệnh nhân phải điều trị trên ngưỡng, trong đó có một bệnh nhân áp dụng ngưỡng là 120%-130% nhưng không thấy có tác dụng phụ gì và cả hai đều hết ảo thanh.

Tần số hiệu quả nhất là 25 hez và số xung từ 4800 đến 5400 xung cho một lần kích thích. Trường hợp không giảm có thể tăng lên 8100 xung

4.1 Đánh giá độ an toàn của kích thích từ : toàn bộ 30 bệnh nhân đều thấy rất dễ chịu ngay lần kích thích đầu tiên, thấy nhẹ nhõm hẳn đầu óc, bớt nghĩ lung tung, đêm ngủ ngon giấc hơn và chỉ muốn ngày nào cũng được kích thích. Tất cả các chỉ số tim mạch, huyết áp, điện não đều bình thường ( bảng 7)

Kết luận

1. Một số đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 

- Bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ 86,67%, nam chiếm 13,33%.

- Lứa tuổi 16-35 chiếm tỷ lệ cao nhất (76,67 % ), thấp nhất là46-50 (10%).

2. Đánh giá hiệu quả của kích thích từ

- Các rối loạn cảm xúc thuyên giảm nhiều, 33% bệnh nhân chưa muốn làm việc.

- 19/30 bệnh nhân hết ảo thanh (63,63%), số chưa hết thì ảo thanh xuất hiện cũng thưa và cường độ giảm hơn nhiều, ảo thanh xui khiến giảm mạnh, ảo thanh tiếng ve, tiếng hát, tiếng giun dế kêu không giảm.

- Tất cả các loại hoang tưởng và ý định tự sát thuyên giảm hết.

- Các biểu hiện hay kêu ca phàn nàn, bồn chồn đứng ngồi không yên đáp ứng tốt

- 100% bệnh nhân đều ăn khỏe và hồi phục cân nặng. Các biểu hiện rối loạn kinh nguyệt , rối loạn tình dục và rối loạn trí nhớ thuyên giảm chậm.

3. Đánh giá hiệu quả của tần số, số xung: tần số 25 hez và số xung từ 4800 đến 5400 cho một lần kích thích có hiệu quả tốt điều trị các triệu chứng của trầm cảm nặng có loạn thần.

4.Tác dụng không mong muốn :tất cả các chỉ số tim mạch, huyết áp, điện não đều bình thường, bệnh nhân thấy rất dễ chịu và thoải mái, bớt nghĩ lung tung, đêm ngủ ngon giấc hơn.

Tài liệu tham khảo

Tiếng việt

1. Tô thanh Phương ( 2006). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm nặng và điều trị bằng Amitriptyline phối hợp với thuốc chống loạn thần

Luận án tiến sĩ. Học viện Quân y

2. Nguyễn Viết Thiêm,Trần Viết Nghị, Trần Văn Cường(2000), “ Cáchình thái biểu hiện của trầm cảm trong thực hành hiện nay ở Việt Nam’’, Chăm sóc sức khoẻ tâm thần tại cộng đồng cho các bệnh loạn thần nặng mạn tính, Hà nội, tr. 61-66.

Tiếng pháp

3. Klein R.G. (1995), Les maladies dépressives chez l’adolescent, Les maladies dépressives, Médecine-Sciences-Flammarion, pp. 25-31

4. Leon Grunhaus; Pinhas N; Dannon MD (2002).Trasccranial Magnetic Stimulatio. Dialogues in clinical neuroscience. Pp 93-103

5. Roland Dardennes; Bruno Etain; Alexandra Pham-Scottes (2003). Traitement des troubles pschychiatriques par la Stimulation Magnétque Transcranienne.

Psychiatrie Sciences Humaines Neurosciences (1),pp. 40-43.

 

 
 Thảo luận (Ý kiến của bạn?)   [Đọc sau]   [Trở về]

Tin mới:


Các tin đã đưa:

Xem tiếp >>

Tiêu điểm

Lâm sàng trầm cảm và thay đổi thể tích não ở bệnh nhân qua MIR.
Khảo sát sự phát triển tâm lý - vận động ở trẻ em bằng Test Denver II
Ngày sức khoẻ tâm thần Thế giới năm 2017 (10-10-2017)
Xây dựng quy trình áp dụng kích thích từ xuyên sọ hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid.
  Kết quả điều trị trầm cảm sau sinh bằng thuốc chống trầm cảm phối hợp thuốc an thần.
Đánh giá hiệu quả điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt Paranoid bằng kỹ thuật sốc điện một bên.
  Sức khỏe Tâm thần Tiếp» 
Lâm sàng trầm cảm và thay đổi thể tích não ở bệnh nhân qua MIR.
Khảo sát sự phát triển tâm lý - vận động ở trẻ em bằng Test Denver II
Ngày sức khoẻ tâm thần Thế giới năm 2017 (10-10-2017)
 
  Báo cáo ca lâm sàng Tiếp» 
Nhận xét một số đặc điểm tâm lý qua tranh vẽ ở một trường hợp có khó khăn tâm lý
Nhận xét điều trị 5 bệnh nhân tâm thần phân liệt trầm cảm có hành vi đặc biệt nguy hiểm
Báo cáo một trường hợp bệnh tâm thần phân liệt đặc biệt
 
Dành cho Quảng cáo

® BẢN QUYỀN THUỘC BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I
Điện thoại : 04.33853227 - 04.33850050 - 04.33852902 - 04.33850589 - 04.33853534; Fax : 04.33853190
Email :
bvtttw1@yahoo.com.vn : Website : http://www.bvtttw1.gov.vn

(Sử dụng phần mềm quản lý nội dung Website (CMS) của NtSoft Jsc)